Cái thời… đã qua!

0
121

Cái thời mà những người lạ trưởng thành nói chuyện với nhau được bắt đầu bằng hai tiếng thưa Ông, thưa Bà đã qua.

Cái thời mà đàn ông thanh niên khi ra đường đều bỏ áo vô quần chân mang giày, phụ nữ từ trẻ đến già đều mặc áo dài nghiêm trang hoặc những người bình dân thì áo bà ba quần đen, tuyệt đối không bao giờ mặc đồ bộ vốn chỉ mặc ở nhà đã qua.

Cái thời mà đi trên đường lỡ bị va quẹt xe nhau chút đỉnh, mở miệng nói một câu xin lỗi kèm với nụ cười rồi đường ai nấy đi đã qua.

Cái thời mà khi đi đường, người ta tự ý thức sự ưu tiên của hướng lưu thông mà nhường cho đi trước đã qua.

Cái thời mà có người đang đi bỗng dưng ngừng xe trước cửa ngó vô nhà coi giờ trên chiếc đồng hồ ODO treo trên tường hay cái đồng hồ quả lắc có đổ chuông không cần hỏi một tiếng đã qua.

Cái thời mà bỗng dưng có một người lạ hoắc đứng ngay trước cửa nhà mình nhờ chỉ đường hay hỏi thăm nhà dì Năm cô Bảy trong xóm, mình cứ tự nhiên bước ra trả lời không có chút nghi ngại phải ngó mặt đánh giá sự lương thiện hay phải dòm tới dòm lui trước khi trả lời câu hỏi đã qua.

Cái thời mà người ta sẵn sàng mở cửa mời người lỡ đường bước vào nhà để tránh mưa cho khỏi bị ướt đã qua.

Cái thời mà ngoài chợ rau bán mớ, trái cây bán chục đã qua.

Cái thời mà những tiếng rao “ngọt như đường cát, mát như đường phèn”: Ai đậu đen nấu đường hôn? Ai chè đậu xanh bột khoai bún tàu nước dừa đường cát trắng hôn? Ai ăn bánh da lợn đậu xanh nước cốt dừa hôn? Cái tiếng hôn cuối câu cất cao lên rồi nhỏ dần trải dài qua những con hẻm nhỏ một cách thanh tao như chui lọt vào lỗ tai một cách ngọt ngào nghe như một cái hôn ghé phớt qua nghe nhột nhột thích thú. Rồi cũng có tiếng rao khàn đục đàn ông: Ai ve chai bán hôn? như một bè trầm trong bản hợp xướng tạo thành nhạc nền cho cuộc sống phố phường sinh động đã qua.

Cái thời mà thứ bậc của người đối diện luôn luôn đi kèm theo tiếng xưng hô đôi khi cứ gán đại cho đẹp vẻ thân tình đặc trưng của người Nam bộ như Bà Ngoại Năm, Bác Hai, Dì Ba, Thím Tư đã qua…

Cái thời mà ở những đoạn đường vắng nhà không có hàng quán, trước sân cạnh lề đường có những khạp nước uống kê cao lên kèm với cái gáo dừa nhỏ có cán để giúp những người đi lỡ đường giải khát đã qua.

Cái thời mà người ta sẵn sàng bới cho một tô cơm đầy thức ăn đem cho một người nghèo đói đi ngang nhà hay móc túi lấy vài đồng bạc lẻ cho người ăn xin rách rưới không chút do dự vì sợ gặp phải ánh mắt xảo trá và bị nghe câu: Cho con xin! đã qua.

Sở dĩ những điệp khúc dài ngoằng nói về sự tốt đẹp trong việc cư xử với nhau trong cuộc sống hầu như ít còn tồn tại, ngay cả với những con người từng tự hào mình là dân Sài gòn gốc đã mấy thế hệ. Ngẫm nghĩ rồi soi rọi lại bản thân mình coi tôi nói có đúng không?

Nhìn quanh mọi nơi và mọi mặt của mảnh đất hiện nay không còn được mang cái tên vốn có của nó là sự lên ngôi của những hình dung từ mang đầy vẻ xấu xa: tự cao, tự đại, tự mãn, chèn ép, giành giật, phách lối, mất dạy, hỗn xược, láu cá, vô văn hoá, xảo quyệt, dối trá, ti tiện, nhỏ nhen, lừa đảo, bạo lực…của những lớp người ở những địa phương khác đã cố xin nhận nơi nầy làm quê hương.

Sau một thời gian dài được “quản lý” bởi những nhà chức trách gốc người miền nam, thâm tâm họ không muốn mảnh đất nầy xô bồ nhộn nhạo làm mất đi vẻ duyên dáng vốn có của nó bằng sự ràng buộc khắt khe từ tờ hộ khẩu, nhưng những người tự cho rằng mình có công lớn trong việc chiếm được miếng bánh béo bở nầy đâu chịu thua không được hưởng phần?

Áp lực ngày càng dồn dập nên việc gì sẽ đến cũng phải đến. Mới đầu còn động thái KT3 để kìm giữ, nhưng cuối cùng phải thả lỏng vì không thể nào kiểm soát được tình hình.

Thế là như đê sông Hồng bị vỡ, nước lũ đã tràn về trắng đồng kéo theo bao nhiêu cành khô củi mục rác rưởi, nhấn chìm dưới làn nước đỏ những vạt lúa xanh tươi mơn mởn đang yên bình lả lơi ngã ngớn theo trận gió xuân đa tình thổi qua trêu ghẹo.

Bây giờ đi ra những quận vùng ven như Quận 12, Hóc Môn, Củ Chi, Long An, Bình Chánh, Thủ Đức tình cờ hỏi thăm và khi biết họ từ những vùng trung tâm phải dời về đây, thậm chí mồ mả ông bà của họ đã nằm xuống nơi chôn nhau cắt rốn đã phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mấy đời mới có được cũng phải di dời do những quyết định quy hoạch xỏ lá để cướp đi những vị trí vàng mang lại lợi ích nhóm thật tôi nghe đau xót trong lòng.

Hoặc một bộ phận không nhỏ những kẻ ở miền quê nào xa ngái không có miếng đất cắm dùi, không có công ăn việc làm đã trôi dạt về đây kiếm sống, dành dụm chắt mót cả năm trường để đổ tất cả vào một chuyến về thăm quê dịp cuối năm. Sau cái tết trắng tay, họ cắm cúi làm lại từ đầu và trong thâm tâm phải kiếm cho được tiền càng nhiều càng tốt bất chấp thủ đoạn.

Đất Sài gòn vẫn có lớp người lao động mua gánh bán bưng, nhưng cái loại bán món gì cũng cân và mặt cân đồng hồ chỉ đúng 1kg, về nhà cân lại chỉ còn 850 g là bọn đểu cáng dữ dằn nói giọng lạ du nhập vào mảnh đất chơn chất hiền hoà nầy sự biển lận và dối trá.

HUNG KIEU

NO COMMENTS