Hồn đất & người Sài Gòn…

0
128

Điều trước tiên tôi muốn xin thưa trong bài viết nầy chỉ là những chuyện phiếm, hoàn toàn không có ý hướng đề cập đến chuyện chính trị và tôi cũng chẳng hề muốn dính dáng tới nó, nhưng ai cũng phải thừa nhận là chuyện ấy đã ảnh hưởng rất nhiều trong nếp sống và nếp nghĩ của con người qua từng thời kỳ biến động.

Dù muốn dù không, chẳng ai có thể tự mình tách khỏi dòng chảy của thời cuộc nên vẫn còn phải trôi xuôi theo nó.

Những con chữ dưới đây chẳng có một chút hơi hám của cái được gọi là văn chương hay triết lý mà chỉ muốn kể lại những câu chuyện xưa và nay thôi.

Bài viết được khởi đầu từ tháng 11 năm ngoái, thời gian kéo dài nên ý tưởng lan man, cắt đầu gọt giữa nên khá lộn xộn.

*****

Tôi lớn lên trên đất Sài gòn ở vùng Kho đạn đầu đường Richaud (Phan Đình Phùng) gần đài phát thanh Pháp-Á từ lúc miền nam còn trong thời Pháp thuộc. Cái thời chiều chiều bọn lính Pháp viễn chinh và lính Lê Dương đóng trong thành Martin des Palières nằm trên đường Luro (Cường Để), người bình dân bấy giờ gọi là Thành Săng-đá (đọc trại từ soldats mà ra), còn nói nôm na theo kiểu tiếng bồi là thành Ông-dèm theo cách đánh số thứ tự của quân đội Pháp vẫn thả bộ đi chơi quanh đó.

Sáng sáng vẫn lủng đủng chạy theo chân của Bà nội đi chợ Đất Hộ Đakao (từ Đakao nầy không thấy xuất hiện trong từ ngữ tiếng Việt nhưng sao địa danh đó được viết như vậy không biết) để lượt về đòi bà nội quẹo vô chùa Ngọc Hoàng được đu thành hồ nhón chân lên ngắm nghía bầy rùa được thả nuôi trong cái hồ nước lớn trước chùa đông lúc nhúc vô kể cho bằng được.

Gọi là chùa vì có thắp nhang đốt vàng mả khói bay nghi ngút, nhưng bên trong không thờ Phật mà chỉ có tượng Ngọc Hoàng và hai vị nữa không rõ là ai được đắp to đùng với những chòm râu đen dài cả thước. Nếu gọi cho đúng hơn là chỉ nên gọi là đền Ngọc Hoàng của người Hoa Minh Hương.

Ba tôi biết tiếng Pháp, làm thư ký cho hãng buôn Denis Frères nằm ở đầu đường Catinat (Tự Do) nên không biết nên xếp gia đình tôi thuộc giai cấp gì giữa trung lưu và hạ lưu theo quan niệm xã hội lúc bấy giờ? Chắc là giữa ranh giới hai giai cấp ấy.

Sở dĩ tôi muốn nói rõ xuất thân của mình là để người đọc hiểu là những suy nghĩ và nhận định cá nhân của mình nằm trong cái vị trí ấy thôi.

Sáng chủ nhật được nghỉ làm, Ba tôi mặc bộ quần áo trắng bỏ áo vô quần và đi giày trắng dẫn thằng con trai còn nhỏ xíu cũng đóng bộ in hệt, khi thì vô sở thú coi cọp, coi khỉ rồi chụp hình đứng cạnh tượng con voi bằng đồng của quốc vương Thái Lan tặng cho Việt Nam đặt trong sở thú ngoài sân đền Kỷ niệm (Temple de Souvenir) thờ những người Việt đi lính cho Pháp chết trong Đệ nhất thế chiến. Sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1954 được đổi thành đền thờ Quốc tổ Hùng Vương, trong đó cũng thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, Đức Tả quân Lê Văn Duyệt.

Sau nầy lớn lên, tôi cũng đã trở lại Sở thú vài lần để thăm lại “người quen” là những con cọp con khỉ năm xưa, nhưng chắc chúng đã qua đời hết rồi! Người ta đã thay thế bằng lớp hậu duệ của chúng.

Tôi cũng có thắc mắc là từ cổng chính Sở thú nhìn vào, bên phải là Đền Kỷ niệm xây hình tứ giác, còn bên trái là Bảo tàng viện xây hình bát giác. Điều nầy cũng có ý nghĩa riêng của nó, nhưng với người Pháp thì họ đâu tin vào phong thuỷ của người Á đông?

Có thể sẽ tìm thấy lời giải thích trong các bài viết của học giả chuyên về Sài gòn-Chợ Lớn là Ông Vương Hồng Sển. Ông đã làm việc ở Bảo tàng viện và trong đó có trưng bày rất nhiều cổ vật có giá trị là tài sản cá nhân ông trao tặng.

Bắt đầu từ góc đường Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự) và Angier (Nguyễn Bỉnh Khiêm) là một hàng rào trồng bằng cây cùm nụm xanh tốt cao hơn đầu người chạy dài hết mặt tiền cổng chính bằng sắt hướng ra đường Norodom (Thống Nhất) và qua khỏi trường nam trung học Võ Trường Toản và trường nữ trung học Trưng Vương.

Đi ngang những khoảng trống ít lá, Ba hù doạ là buổi tối mấy chỗ nầy hay có “thằng điếm ba da” nhảy ra giựt đồ của người đi bộ ngang qua. Tôi nghe mà xanh mặt khi tưởng những thằng đầu trộm đuôi cướp đó có tới ba lớp da (?)

Khi thì ngồi trước thềm Bưu điện Sài gòn nhìn qua Nhà Thờ Đức Bà coi người ta đi lễ ngày Chúa nhật hoặc ngắm mấy con chim bồ câu tha thẩn từng bước nhỏ kiếm ăn trước sân bưu điện rồi bay vù lên những ô cửa tò vò trên tầng áp mái hoặc lên tháp chuông nhà thờ khi có người đi ngang qua. Khi thì Ba dẫn xuống tuốt bờ sông chỗ bến Bạch Đằng ngắm những con tàu viễn dương đang nằm trong cảng Khánh Hội phía xa xa. Cũng có khi vòng lên đường Charner (Nguyễn Huệ) rồi đi theo đường Bonard (Lê Lợi) ghé chợ Bến Thành coi chơi cho biết.

Kho xăng bên Thị Nghè bị cháy nổ rùm trời làm dân quanh vùng phải tản cư vì cái ông Lê Văn Tám nào đó tẩm xăng vào người chạy vào, nhưng không biết chuyện đó có thiệt hay không? Tôi không thể nào tưởng tượng nổi cảnh một con người trở thành một cây đuốc sống có thể chạy từ ngoài cổng qua trạm gác tới kho xăng vốn chứa trong những cái bồn lớn hay những thuỳ phuy bằng kim loại cách cổng rất xa chớ đâu phải đổ bừa ra một vũng trên mặt đất mà làm thành một vụ cháy khủng khiếp như một người ngoài hành tinh hay một diễn viên trong phim hành động.

Công nhận người dân mình lúc đó ngu thiệt!

Cuộc sống yên ổn bị xáo trộn phải dời chỗ ở qua Bến tắm ngựa bên đường Yên Đỗ.

Chưa được bao lâu lại xảy ra một vụ cháy nhà làm thành bình địa cả khu vực dân cư rộng lớn.

Lần nầy gia đình tôi quay về cất nhà ở xóm Chùa Phổ Hiền gần Cầu Bông ĐaKao. Bên kia đường là Ông Thầy Ba Cầu Bông chuyên chữa bịnh ban cho con nít nổi tiếng vùng Sài gòn-Gia Định.

Thủa ấy, con rạch Thị Nghè nước vẫn trong xanh. Buổi chiều tôi hay đánh đu chân chiếc cầu ao sau nhà để đắm mình trong làn nước mát đập hai chân bì bõm.

Chiều chiều, vẫn còn những chiếc xe ba bánh chở một cái thùng to đùng khói bay nghi ngút ghé chợ chồm hổm đầu đường bán đồ “lâm vố” (đồ ăn xà bần, tiếng bình dân để chỉ những thức ăn thừa trút chung vô một nồi kho lại) của trại lính Ông-dèm đem bán cho dân lao động.

Đó là thức ăn của bữa cơm tối cho những gia đình lao động đông con vừa rẻ vừa…có mùi Tây, sau khi chỉ cần bắt thêm nồi cơm. Phải rút gọn thời gian nấu nướng vì trời đã sụp tối mà khu vực đó chưa có điện chỉ đốt đèn dầu. Ai “tây” hơn thì mua vài ổ bánh mì ăn cho xong bữa đỡ mất công củi lửa dễ bị cháy nhà.

Còn nhỏ xíu, nhưng lần đầu tiên cầm ổ bánh mì được bỏ vô một bao nylon hàn kín miệng cho hạp vệ sinh, tôi cứ lật qua lật lại tìm cái mí bao theo chiều dọc rồi thắc mắc không hiểu người ta làm cách gì mà có thể ghép mí không thấy dấu tài tình vậy?

Rồi tôi được học những chữ cái tiếng Việt trong khi những gót giày của đội quân viễn chinh Pháp vẫn còn nện trên hè phố đất Sài gòn. Tôi không hề biết đến cuộc bại trận nhục nhã của họ ở Điện Biên Phủ trên đất Bắc xa xôi. Tôi không hề biết đến hội nghị Genève nào đó được ký kết để đất nước tôi giành được độc lập. Và tôi cũng chưa đủ khôn lớn để biết được rằng nước Việt Nam tôi tuy đã thoát khỏi tay bọn thực dân Pháp nhưng đã bị cắt ra làm hai mảnh. Những đồng bào của tôi ở một vùng xa xôi nào đó phải đùm túm di cư trốn chạy một tai hoạ kinh khủng chưa từng biết tới.

Buổi sáng, tôi được bà nội cho một tờ giấy bạc một đồng Đông Dương mà tôi có thể xé làm hai để mua một gói xôi đậu đen phết thêm một chút mỡ hành, một chút đậu xanh, vài cọng dừa non nạo rắc lên trên rồi gói trong một miếng bánh phồng phơi sương cho dẻo, hoặc vài củ khoai lang bí ruột vàng ươm ngọt ngất trên đường tới trường.

Những món quà sáng ấy cùng với những viên phấn, những tờ giấy chậm đủ màu, những vết mực tím dính đầy ngón tay đã mang những lung linh hồn chữ thổi vào và làm khôn lớn tâm hồn tôi rồi nó ở mãi trong đó cho tới tận bây giờ.

Tôi cứ vô tư lớn lên và ngày ngày đến trường.

Bỗng có một ngày, thầy Hiệu trưởng dẫn vài thằng nhóc tới cửa lớp giao cho thầy giáo xếp chỗ. Nhìn những bộ mặt ngơ ngáo với mái tóc để ngọn dài vắt ngang qua lỗ tai sao thấy họ chẳng giống chút nào với bọn chúng tôi. Giờ ra chơi, hỏi han nhau thì giọng nói của nó làm cho tôi bối rối thật sự vì không hiểu kịp nó muốn nói gì.

Cuối cùng thì tôi cũng biết đó là mấy thằng Bắc kỳ mới di cư vào Nam.

Con nít vốn bản tính dễ làm quen và mau thân thiện nên cái ngập ngừng buổi ban đầu mau chóng biến mất. Nhìn lại trong lớp, chúng chỉ là thiểu số ít ỏi nên cũng e dè an phận, luôn tránh né những sự tranh chấp cãi cọ trẻ con nên dễ dàng sống chung hoà bình với chúng tôi.

*****

Dòng đời xuôi chảy rồi gập ghềnh theo những biến động chính trị rồi cuộc chiến tranh uỷ nhiệm khốc liệt đã lôi tôi đi khắp nẻo. Tàn cuộc binh đao, sau khi trả hết nợ đời tôi lại về đất Sài gòn sống mấy chục năm qua.

Kể lể dông dài như vậy để gọi tôi là một người Sài gòn chắc cũng không có gì quá đáng?

Chuỗi ngày dằng dặc nhiều năm nhiều tháng sau đó, tôi không còn một cảm nhận gì của riêng mình về sự tàn phai, sự mất mát, sự tan tác những mảnh đời phân ly vì tôi phải vật lộn với cuộc sống quá khó khăn để được tồn tại ngay trong lòng của nó. Đôi lúc lại có cảm tưởng như mình là một kẻ đứng bên lề nơi chốn mà từ đó mình đã lớn lên, trở thành kẻ lạ trên mảnh đất quen.

Trong con mắt của tôi, đất Sài gòn đã thay đổi toàn diện từ cấu trúc xã hội đến cái vẻ bên ngoài của nó.

Một cơn bão dữ dội đã quét qua mảnh đất Sài gòn mà ngày xưa người dân bản địa tự hào với danh xưng Hòn ngọc Viễn Đông đã làm tan vỡ toàn diện.

Một cuộc đổi chủ đưa tới những cuộc đổi đời. Những người có liên quan đến chế độ cũ được gom lại sau hàng rào dây thép gai. Hai trận đánh tư sản mại bản đã làm tan hoang tới tận cùng mảnh đất Sài gòn từ nghĩa đen đến nghĩa bóng. Sau vài năm lại rộ lên phong trào vượt biên. Người tới được những bến bờ xa lạ, người phải dứt bàn tay níu chôn vùi thân xác vào đại dương và người còn ở lại thật lắm nỗi đoạn trường.

Tất cả gộp lại thành một cuộc phân ly bi thảm vĩ đại nhất trong lịch sử của đất và người Sài gòn.

Không ai có đủ khả năng làm một cuộc tổng kết về nó, chỉ còn là một cái gai nhức nhối làm thành một vết thương mưng mủ không thể nào lành. Thi thoảng có ai chạm tới thì nỗi đau lại dấy lên.

Cuộc sống người dân trong tình cảnh ngăn sông cấm chợ đã đưa mọi gia đình tới tình trạng thiếu thốn cùng cực, không chỉ là về lương thực thực phẩm mà ngay đến những nhu yếu phẩm trong sinh hoạt hàng ngày. Đã nảy sinh ra một nghề mới là đi buôn lậu nhỏ lẻ khắp nơi để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của đời sống. Người người cố chui vào một cơ quan Nhà Nước nào đó với đồng lương tối thiểu để hưởng được tiêu chuẩn gạo phân phối cho công nhân viên Nhà nước.

Thực phẩm giả tràn lan khắp thị trường cả nước. Mọi người đều biết nhưng phải chấp nhận để sống, và đến mãi năm mươi năm sau đã trở thành một cơn bệnh trầm kha mãn tính không có thuốc chữa.

Một thời gian rất dài, đất và người Sài gòn đã phải sống trong cảnh tối tăm và cái hồn cũng bay đi đâu mất.

May thay, người lãnh đạo đất nước lúc ấy có được cái nhìn xa hơn chóp mũ của thiên triều, đã học tập và noi theo đường lối mở cửa (glasnost) và cải tổ (perestroika) của Liên Xô với thế giới tư bản đem lại luồng sinh khí mới cho đất nước.

Một nguồn vốn to lớn được rót vào đất nước nghèo đói và kiệt quệ sau chiến tranh để thành lập những nhà máy, xí nghiệp, công ty làm hàng xuất khẩu với lực lượng công nhân đông đảo giá rẻ. Khu chế xuất Tân Thuận là một đòn kích cho thời kỳ phát triển mới.

Một kế hoạch rộng lớn mang tầm cỡ quốc gia là quy hoạch, giải phóng mặt bằng. Những vùng đất nông nghiệp ở ven những thành phố lớn được quy hoạch chuyển đổi chức năng sử dụng đã làm nên một cuộc xáo trộn dữ dội đến mức bi thảm tình cảm trong gia đình dòng tộc.

Những khu đất vàng ở khu vực trung tâm Sài gòn đã nằm trong bản đồ quy hoạch tái cấu trúc bộ mặt thành phố. Điều đó cũng hiển nhiên phải tiến hành, những khu phố xập xệ có kiến trúc không đồng bộ được thay vào bằng những toà cao ốc hào nhoáng đã đẩy một bộ phận dân cư tiêu biểu của người Sài gòn xưa lùi xa ra những vùng ven. Nhưng song song đó lại âm mưu phá bỏ những kiến trúc tiêu biểu của Sài gòn như chợ Bến Thành chẳng hạn.

Đã xảy ra biết bao nhiêu chuyện đau lòng là anh em họ hàng đánh nhau, cha mẹ con cái bất hoà, gia đình lục đục, thậm chí còn đưa tới những câu chuyện đau lòng là máu đã đổ và có người mất mạng. Tiền bạc làm thay đổi con người ta từ cách cư xử, quan hệ gia đình họ hàng, ngay cả ý thức kính trên nhường dưới vốn là căn bản đạo đức của người Sài gòn xưa cũng đần dần phai nhạt rồi biến mất.

Cũng từ đó, hệ quả của nó là lôi kéo một số lượng dân cư rất lớn từ các tỉnh trên khắp đất nước đua nhau vào mảnh đất béo bở để kiếm những miếng bánh thơm tho.

Xin thưa, tôi không dám có ý nghĩ xúc phạm đến những con người đã dùng mồ hôi của mình kiếm lấy miếng ăn chính đáng mà chỉ dám nói đến những thành phần cặn bã đã mang theo bước chân họ biết bao nhiêu cái xấu xa, tệ nạn xã hội vào mảnh đất Sài gòn tươi đẹp và hiền hoà vốn đã có từ xưa.

Tầm cao thì đầy chất xảo quyệt và man trá mưu mô lừa đảo nhau, tầm thấp thì mua gian bán lận, tầm mạt hạng thì trai làm điếm gái làm đĩ sống bằng vốn tự có, xì-ke ma tuý tràn ngập trong các vũ trường quán bar, ở lề đường góc phố…

Lớp trẻ lớn lên trong thời kỳ đó đã được hưởng những tiện nghi vật chất tốt hơn và đã bạc bẽo quay lưng với những khốn khó mà cha ông chúng đã từng phải gánh chịu. Tiền bạc rủng rỉnh, chúng bắt đầu lao vào những trò vui, cung cách sống lai căng theo chân những nhà đầu tư nước ngoài.

Nếu muốn nói cho hết thì còn một ngàn lẻ một chuyện làm ray rức suy nghĩ và tâm hồn của những người tự nhận là người Sài gòn xưa.

Muốn sống cho thanh thản đầu óc phần nào, hãy gác hết và bỏ ngoài tai những điều nhơ nhớp ấy.

Những buổi sáng đẹp trời bây giờ, nếu có dịp đi ngang Nhà Thờ Đức Bà Sài gòn thì vẫn còn được nhìn thấy những con bồ câu bay lên đáp xuống, nhưng đó không còn là những con bồ câu trong hồi ức của tôi, chúng chỉ nhặt nhạnh những miếng bánh rơi vãi của tụi trẻ con trước thềm Bưu điện trung tâm.

Bây giờ thì đã có sẵn một lực lượng đông đảo những con buôn chờ sẵn trước của trường học bên hông phải nhà thờ bán những bịch thức ăn khuyến dụ bồ câu đáp xuống cho du khách. Chúng cũng dạn dĩ đáp xuống từng bầy đông đúc, nhặt lấy thức ăn trên tay du khách, đậu cả lên vai của những đứa trẻ con. Cũng có những tràng cười thích thú cất lên nhưng cái hồn của tiếng cười ngày xưa đã bay biến theo thời gian mất rồi!

Nhà thờ Đức Bà với bộ giàn dáo quy mô bao trùm vây quanh với mục đích đại tu vẫn đứng sừng sững giữa đại lộ như trêu ngươi người Sài gòn một thời gian rất dài, đi ngang rất nhiều lần nhưng tôi chẳng thấy bóng dáng một công nhân xây dựng nào đang làm việc. Hay lại là một kiến trúc tôn giáo giữa lòng Sài gòn cũng bị lọt vào thuyết âm mưu?

Bốn hàng cây cổ thụ có tuổi đời hơn một trăm được trồng từ thời Pháp thuộc cho bóng mát con đường Cường Để được xếp vào một trong những con đường đẹp nhất Sài gòn bắt đầu từ xưởng Ba Son sau đổi thành Hải quân công xưởng chạy ngang qua tu viện Thánh Saint-Paul. Con đường đã được dùng làm bối cảnh cho rất nhiều bộ phim và video clip ca nhạc. Thế mà họ đành đoạn triệt hạ tất cả những cây cổ thụ đó với lý do dọn đường cho tuyến Metro Bến Thành-Suối Tiên.

Khởi đầu, do phản ứng quyết liệt của người Sài gòn, áp dụng chiến thuật mềm nắn rắn buông rồi tiếp đến là tầm ăn dâu, họ chỉ đốn hạ phần cây từ đầu đường đến đường Nguyễn Hữu Cảnh ảnh hưởng tới tuyến metro. Chỗ nầy nếu không quy lỗi một phần cho Công ty Nhật Bản đấu thầu xây dựng tuyến metro là có tầm nhìn kém.

Khi lên bản thiết kế tuyến đường, họ đã nghe theo chính quyền để có cớ đốn hạ những hàng cây ấy. Thử họ chỉ nhấn sâu vô thêm 10 mét sẽ không đụng chạm tới hàng cây mà chi phí xây dựng cũng không phát sinh thêm đồng nào vì sở Ba Son đã giải toả mặt bằng rồi, họ có thể sử dụng mặt đất thoải mái.

Trước tết vài tháng có việc đi ngang đó, tôi đã sững sờ khi thấy tất cả những hàng cây cổ thụ rợp bóng ngày nào đã bị xoá sổ hoàn toàn từ đầu đường Cường Để (Tôn Đức Thắng) đến ngã tư Thống Nhất (Lê Duẫn ngày nay) vì lợi ích nhóm của họ.

Phía bên kia đường là những trụ sở công ty, nhà hàng khách sạn đã lộ hẳn mặt tiền lấp loáng nhôm kính.

Hàng cây bên đó có ảnh hưởng gì tới tuyến metro đâu?

Trước năm 1975 đối với dân tỉnh, Sài gòn là nơi phồn hoa đô hội. Một thủ đô với rất nhiều công thự và quyền lực tập trung ở đó. Một thành phố to lớn với đèn tín hiệu giao thông xanh đỏ ở mỗi ngã tư đường. Một thành phố phù hoa với những nhà hàng, khách sạn, rạp hát, các nơi giải trí đủ món, cửa tiệm sang trọng và hào nhoáng…Và hầu như tất cả tinh hoa của đất nước đều tập trung về đó tạo nên sức sống và sự giàu có cho cả nước.

Còn đối với những cư dân ở vùng ngoại ô, nói đi Sài gòn chơi là thường quy tụ trong một khoảng không gian tự họ mặc nhiên khoanh vùng. Dựa theo ý thích cá nhân, tôi cũng có một “Sài gòn đi chơi” cho riêng mình. Chỉ trong một không gian khá nhỏ hẹp bao quanh từ Nhà thờ Đức Bà theo đường Tự Do, chạy thẳng xuống Bến Bạch Đằng rồi ngoặc lên đường Hàm Nghi, tạt trái về hướng đường Trần Hưng Đạo. Theo đường Phạm Ngũ Lão băng lên Chợ Thái Bình, rẽ phải theo đường Võ Tánh, tới Ngã sáu Lê Văn Duyệt đi theo đường Gia Long đụng đường Tự Do là hết.

Hễ nói đi Sài gòn chơi thì thường tụ về khu vực đó. Nổi bật là Nhà thờ Đức Bà, bến Bạch Đằng, chợ Bến Thành, rạp xi-nê Rex, đại lộ Lê Lợi, đại lộ Nguyễn Huệ…đường Tự Do có La Pagode, Givral, Brodard, nhà sách Xuân Thu, đường Công Lý có hẻm Casino, kem Bạch Đằng. Đường Pasteur có nước mía Viễn Đông, đại lộ Lê Lợi có nhà sách Khai Trí và cafeteria Rex và khu vực chợ trời sách lề đường, là khu vực mỗi khi chiều xuống là nơi lượn lờ của nam thanh nữ tú, kéo dài theo đại lộ Nguyễn Huệ xuống bến Bạch Đằng.

Bây giờ thì khu vực nhỏ ấy còn lại gì ngoài những cao ốc ngước nhìn mỏi cổ và cái dự án nhà ga metro trung tâm giẫm chân tại chỗ đã mấy năm nay?

Trên đường đi từ một vùng ven đô tới khu vực trung tâm Sài gòn bây giờ, theo sự quan sát người và vật chung quanh tôi xin tạm phân ra vài khu vực với những đặc điểm khác biệt:

Vùng nông thôn trồng rau, trồng hoa cung cấp cho cư dân Sài gòn thì đã bị đẩy xa ra tách biệt hẳn với địa giới Sài gòn xưa.

Vùng ven đa số là người dân lao động sống chen chúc trong một không gian ở chật hẹp dưới mức bình thường chỉ để dùng làm chỗ ngủ nghỉ, ngày ngày túa ra các công ty xí nghiệp, ra hè phố mua gánh bán bưng đổ những giọt mồ hôi thật thà của họ đổi lấy chén cơm đạm bạc.

Vùng đệm tạm gọi là giai cấp trung lưu còn bám trụ lại đất Sài gòn với tính cách lớp người cũ sống ở những khu vực trong hẻm cộng thêm một số lưu dân mới phát, chảnh choẹ thừa những đồng tiền bẩn ở những ngôi nhà ngoài mặt tiền. Những nhà phố trên đường giờ đã thay đổi hoàn toàn với những cửa hàng sang trọng với bảng quảng cáo hào nhoáng.

Vùng lõi kể từ khu vực Tân cảng ở đầu cầu Sài gòn kéo dài theo con đường mới Nguyễn Hữu Cảnh ăn lan một phần Quận 3 đến khu trung tâm Quận 1 là những khu chung cư cao cấp với sự bảo vệ an ninh hết sức nghiêm ngặt, những trụ sở văn phòng công ty nước trong và nước ngoài đặt trong những cao ốc lấp lánh nhôm kính sang trọng, những nhà hàng và cửa hiệu cao cấp sáng choang. Đường phố thì vẫn cứ nhỏ hẹp như xưa, muốn quan sát những công trình ấy thật là mỏi cổ.

Những nơi ăn chơi cao cấp xuất hiện nhan nhãn trên những con đường lớn nhỏ trong khu vực vị trí vàng.

Tầng lớp cư dân nào ra vào những nơi đó? Quả tình là tôi không được rõ lắm, nhưng quan sát cung cách và ngôn ngữ của họ từ những người đứng tuổi tới lớp người trẻ tuổi thì hoàn toàn xa lạ với người Sài gòn xưa.

Mỗi lượt bước chân vào siêu thị, nhà hàng hay những nơi giải trí, số tiền họ móc túi ra hoặc cà thẻ tín dụng không dưới bảy con số và số nguyên ở đầu ít khi là số 1 hoặc số 2.

Có bao nhiêu sinh viên đại học tốt nghiệp loại giỏi, con cháu của lớp cư dân cũ lọt được vào những chỗ ấy với mức lương cao ngất ngưỡng để ăn trắng mặc trơn thi thố sở trường với đời?

Ngọn gió Đông Nam khởi đi từ biển thổi ngang qua vùng đất Thủ Thiêm và mặt con sông Sài gòn bao đời đâu còn nữa? Nó đã bị che chắn hết rồi!

Vậy cho nên tầng lớp thị dân mới đó phải rúc vào những căn phòng đóng kín cửa với tiếng máy lạnh chạy sè sè liên tục. Không gian sống bó hẹp ấy lâu ngày đã tạo thành một tính cách chỉ biết bản thể cá nhân mình làm trọng, thiếu hẳn sự chan hoà và thông cảm với mọi người chung quanh.

Trong văn phòng làm việc, họ phải cúi đầu nói năng lễ phép với sếp. Nhưng khi bước ra khỏi nơi làm việc là họ đeo cái bộ mặt hãnh tiến lên ngay cho phù hợp với bộ trang phục họ đang mắc lên người hoặc chiếc xe đời mới họ đang đi.

Người bạn Việt kiều phê bình người Sài gòn…lười đi bộ quá! Cứ hễ ra khỏi cửa nhà thì ngồi trên xe gắn máy, chạy tới ngay trước cửa nơi cần đến mới dừng xe, thảo nào đường phố lúc nào cũng chen đặc cứng xe gắn máy gây ách tắc giao thông. Ở bên Mỹ, nếu muốn đi shopping có khi phải đi bộ từ parking tới siêu thị xa gần cả cây số.

Tôi rất hoan nghênh một nếp sống văn minh, nhưng xin đặt một câu hỏi ngược: giả sử muốn đi bộ thì ở đất Sài gòn nầy đi bộ chỗ nào? Lề đường thì đủ thứ bảng quảng cáo, xe bán bánh mì, nước giải khát, tủ thuốc lá, dựng kín xe gắn máy. Đi xuống lòng đường cho xe nó đụng à? Mà luật giao thông cấm người đi bộ xuống lòng đường làm cản trở giao thông.

Ai trả lời nhận xét nầy của người bạn Việt kiều ấy cho hợp lý đi!

Ai đã phá tan hồn đất Sài gòn và bóp chết hồn của người Sài gòn đã có?

Người Sài gòn xưa không có cơ hội phản kháng, mà họ cũng không thích rao giảng về những chuẩn mực đạo đức sống của con người cần thiết phải có để đối đãi với nhau cho hiếu hoà, nhưng hồn đất Sài gòn sẽ tính sổ với những ai cố tình xoá bỏ những dáng vẻ mỹ lệ của nó.

HUNG KIEU

NO COMMENTS