Một nền giáo dục thất bại…

0
80
  • MỘT NỀN GIÁO DỤC THẤT BẠI: VAI TRÒ BỘ GIÁO DỤC VÀ CHÍNH SÁCH!

  1. Không có quốc gia nào mà thí sinh thi 30 điểm/3 môn lại rớt đại học cả. Trên đời này rất rất khó có sự hoàn thiện đến mức đó cả. Thậm chí đạt đến sự hoàn thiện tuyệt đối 30 điểm/ 3 môn vẫn rớt. Chỉ tuyển những thí sinh trên 30 điểm nghĩa là những thí sinh đó trên sự hoàn thiện tuyệt đối à.

2. Không có quốc gia nào mà nghề cốt lõi nhất cho một đất nước, gốc rễ nền tảng nhất là giáo dục thì ngành sư phạm lấy đầu vào thấp nhất 12,5 điểm để sau này thành giáo viên.

3. Không có quốc gia nào phát triển mà các ngành nền tảng, tạo ra sản phẩm, tạo giá trị vững chắc như nông nghiệp, kỹ thuật…. bị coi rẻ đến mức chỉ dành thí sinh điểm thấp. Thậm chí thí sinh không thèm quan tâm nữa.

4. Không quốc gia nào mà những ngành Khổ cực nhất, Phục vụ nhân dân như công an lại lấy trên sự tuyệt đối. Thí sinh thi 30 môn đạt tuyệt đối 30 điểm là rớt. ???? Chả hiểu sao bọn trẻ lại bon chen vào ngành này!!!

5. Không quốc gia nào mà ngành chăm sóc sức khoẻ, liên quan tính mạng con người nơi lấy 29,5 điểm, có nơi chỉ cần xét học bạ hay đủ điểm sàng là sau 5,6 năm thành Bác sĩ, dược sĩ hết.

  1. Không quốc gia nào, nông nghiệp là thế mạnh đất nước mà chả học sinh nào muốn vào học, nếu có là những thí sinh điểm thấp hết đường mới vào ngành đó học.
  2. Nếu chỉ tính riêng ngành Bs đa khoa, trường đại học y dược tphcm, có 404 em đỗ mức 29,25 điểm thì chỉ có 26 thí sinh trúng tuyển mà không có điểm cộng và ưu tiên còn lại 378 thí sinh trúng tuyển là nhờ đối tượng ưu tiên, vùng ưu tiên. Vậy các em giỏi thật mà không thuộc đối tượng ưu tiên thì phải gác lại giấc mơ đại học nhé! Không quốc gia nào có được điều này!!!
  • ÔI GIÁO DỤC!

Điểm chuẩn cao nhất khối trường CAND là 30.5 điểm

Sáng 29/7, Tổng cục Chính trị công an nhân dân đã công bố điểm chuẩn vào 7 trường thuộc khối công an nhân dân. Điểm chuẩn của các trường từ 22,75 đến 30,5, trong đó phần lớn lấy 26 đến 29 điểm.

Điểm chuẩn của các trường nhìn chung đều rất cao, đặc biệt là với thí sinh nữ do chỉ tiêu ít.

Theo đó, điểm chuẩn cao nhất là ngành Ngôn ngữ Anh của Học viện Công an nhân dân với mức 30,5 điểm dành cho thí sinh nữ ở khối D01 (ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ).

Dù điểm chuẩn rất cao nhưng ở nhiều ngành, thí sinh thậm chí còn phải đáp ứng đủ tiêu chí phụ mới đủ điểm đỗ vào trường.

Điểm chuẩn khối A, thí sinh nữ, phía Bắc, của Đại học Phòng cháy chữa cháy ở ngưỡng 30,25 điểm. Tuy nhiên, trong số bốn thí sinh cùng mức 30,25 điểm, trường chỉ lấy ba thí sinh có tổng điểm ba môn chưa làm tròn cao nhất, từ 28,35 điểm. Một thí sinh còn lại vẫn không đỗ dù tổng điểm rất cao.

Thông qua chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Chiều 27/7, Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã chính thức thông qua Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (GDPTTT).

Chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).

Hệ thống môn học và hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn.

Thời gian thực học trong một năm học tương đương 35 tuần. Các cơ sở giáo dục có thể tổ chức dạy học 1 buổi/ngày hoặc 2 buổi/ngày. Cơ sở giáo dục tổ chức dạy học 1 buổi/ngày và 2 buổi/ngày đều phải thực hiện nội dung giáo dục bắt buộc chung thống nhất đối với tất cả cơ sở giáo dục trong cả nước. (Xem chi tiết tại đây)

Không còn giao xét tốt nghiệp THPT cho các trường

Chương trình GDPT tổng thể vừa được thông qua, về định hướng đánh giá kết quả giáo dục, chương trình không còn quy định việc giao xét tốt nghiệp THPT cho các cơ sở giáo dục như trong dự thảo hồi tháng 4.

Khi Chương trình GDPT mới áp dụng, kỳ thi THPT sẽ không còn. Thay vào đó, việc xét tốt nghiệp sẽ được giao cho các trường.

Trước đó, trong dự thảo công bố tháng 4 có nêu rõ: Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GD-ĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

VÔ THƯỜNG

BẮT BỆNH VÀ KÊ ĐƠN CHO NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM.

Một bài viết quá hay và tâm đắc, có trách nhiệm với nền giáo dục nước nhà của tiến sĩ Nguyễn Phượng Nguyễn. Ông là giảng viên Khoa Văn – Đại học Sư Phạm Hà Nội, và hiện nay đang giảng dạy ở Đại học Bu San – Hàn Quốc. Từ góc nhìn giáo dục của Hàn Quốc, dường như ông đã bắt được bệnh và kê đơn cho giáo dục nước nhà.

Ai quan tâm thì nên đọc. Ai không đọc thì thiệt.

MẤY VẤN ĐỀ CỦA GIÁO DỤC TỪ HÀN QUỐC NHÌN VỀ VIỆT NAM

(P.N tham khảo và tổng hợp từ internet)

  1. Vài nét về giáo dục Hàn Quốc

Xét về cấu trúc và đặc điểm xã hội, Hàn Quốc là một trong số vài nước ở châu Á có hoàn cảnh tương đối giống Việt nam.

Chẳng hạn:

  1. Sự tồn đọng những trì trệ về tư tưởng của hàng ngàn năm phong kiến.
  2. Nền giáo dục vốn nặng căn với truyền thống, chịu ảnh hưởng sâu sắc tính chất Nho giáo và thuộc địa.

Tuy nhiên, trong nửa thế kỷ nay, Hàn Quốc đã có những bước nhảy vọt thật lớn nhờ cách giải quyết các tồn đọng nói trên một cách khôn ngoan và đúng đắn.

Chẳng hạn, hầu hết những người làm công việc giáo dục và liên quan đến giáo dục ở Hàn Quốc đều cho rằng nhiệm vụ chính yếu của họ là phải giúp trẻ em khám phá những năng lực riêng biệt của chúng, giúp chúng ý thức rõ tất cả các tiềm năng của chính mình và quan trọng nhất, thắp sáng trong trẻ em niềm đam mê học hỏi suốt đời.

Họ coi giáo dục con người toàn diện là quan trọng nhất.

Cụ thể là:

1.Về đức dục quan trọng nhất là rèn luyện tính trung thực, trong sáng, hồn nhiên,

  1. Về trí dục chủ yếu là bồi dưỡng khả năng suy tư độc lập và tinh thần phản biện,
  2. Về mỹ dục coi trọng hình thành ý thức sáng tạo và khả năng thấu hiểu cái đẹp,
  3. Về ý thức xã hội nhấn mạnh giáo dục ý thức cộng đồng và sự tôn trọng các giá trị xã hội.

Để làm được những điều đó, trước hết về thái độ họ xem phát triển giáo dục là ưu tiên hàng đầu và nỗ lực triệt để thực hiện thật tốt ưu tiên đó.

Cụ thể là:

  1. Giáo chức được xã hội coi trọng và hưởng lương cao so với các quốc gia khác. Do đó, các chương trình đào tạo giáo chức đã thu hút được hầu hết thành phần học sinh ưu tú (thuộc 5% tốp đầu của lượng thí sinh tốt nghiệp trung học).
  2. Mặc dầu chính phủ Hàn Quốc có khuynh hướng kiểm soát chặt chẽ hệ thống giáo dục, năm 1999 tổng thống Kim Dae-jung đã ra lệnh hợp thức hóa nghiệp đoàn giáo chức. Từ đó, đoàn viên của nghiệp đoàn bắt đầu tham dự vào các quyết định làm chính sách và điều hành hệ thống giáo dục quốc gia. Nói khác đi, kể từ đó hệ thống giáo dục của họ đã được dân chủ hóa.
  3. Trước 1985, chế độ dạy thêm ngoài giờ khá phổ biến. Thực tế là việc dạy thêm giúp nhiều giáo chức có chuyên môn cao tăng thêm thu nhập và giúp học sinh các gia đình giàu có cơ hội để đạt điểm số cao và nhiều khả năng được thu nhận vào các đại học tốt. Tình trạng này gây nên một bất công lớn cho xã hội. Một chính sách cải tổ được đề xuất vào khoảng giữa thập niên 80, ngăn cản và trừng phạt việc dạy thêm đồng thời tăng lương cho toàn thể giáo chức.

Đến cuối thập niên 80, hiện tượng dạy thêm gần như biến mất.

  1. Hàn Quốc chủ trương chính sách tiếp thu giáo dục nước ngoài một cách cởi mở và táo bạo. Con số du học sinh tăng 20 lần từ 1971 đến 1999, từ 7.632 người lên 154.219 người. Cũng vào năm 1999, 130 trong tổng số 156 đại học hệ bốn năm đã kết nghĩa với 2.130 đại học nước ngoài thuộc 110 quốc gia khác nhau. Trong số này, 640 là các đại học ở Hoa Kỳ.
  2. Sinh viên đại học không chịu sự kiểm soát về chính trị của bộ giáo dục. Ngay từ thời tổng thống Rhee Syngman, mà nhiều người vẫn coi như một nhà độc tài của Hàn Quốc, sinh viên vẫn thường xuyên biểu lộ phản ứng chính trị của họ. Chính nhờ sự độc lập về chính trị này cùng với những trang bị cao về chuyên môn mà sinh viên Hàn Quốc có những suy nghĩ độc lập, lòng tự tin và niềm kiêu hãnh riêng của tầng lớp họ. Cho đến nay hệ thống đại học Hàn Quốc gần như tự trị hoàn toàn, giống như đại học của các nước Tây phương.
  3. Khủng hoảng giáo dục của Việt Nam hiện nay:

Tôi cho rằng, khủng hoảng căn bản của giáo dục Việt Nam nằm ở mô thức giáo dục và những chính sách liên quan đến mục tiêu hàng đầu là phát triển con người toàn diện.

Trong đó, từ rất lâu, nó đã sao nhãng các giá trị chính như:

TƯ DUY ĐỘC LẬP, SỰ SÁNG TẠO VÀ Ý THỨC TÔN TRỌNG SỰ KHÁC BIỆT.

Có một nghịch lý là, để thanh toán khủng hoảng, Việt Nam đã đề xướng cải cách giáo dục khá nhiều lần, tuy nhiên, có vẻ như càng tránh các sai lầm, nó lại rơi vào các sai lầm trầm trọng hơn.

Cụ thể:

Sai lầm thứ nhất là tính đồng phục trong giảng dạy. Ở Việt nam, từ giảng dạy đại học đến giáo dục phổ thông dường như chỉ có một bộ giáo trình đại học và hai bộ sách giáo khoa phổ thông.

Trên nguyên tắc, sách giáo khoa được coi là một thứ pháp lệnh, thầy cô giáo phải giảng dạy theo đúng chương trình của bộ Giáo dục, trong khi đó, chúng ta đều biết rằng: mỗi thầy cô giáo có khả năng tiếp cận và phương pháp truyền đạt riêng và chỉ dạy giỏi với cách tiếp cận đó và phương pháp truyền đạt đó mà thôi.

Kết quả là hàng triệu học sinh được tiếp thu bài vở như nhau dẫn đến có nếp tư duy và phát ngôn giống hệt nhau.

Sai lầm thứ hai là, giáo dục mang nặng tính chất ghetto, quá tách biệt với những gì xảy ra bên ngoài nhà trường. Nó gần như bị điếc và mù trước các nhu cầu thiết yếu của xã hội.

Sai lầm thứ ba là chương trình giảng dạy quá nặng, hướng về nhồi sọ, cung cấp thông tin hơn là giáo dục NĂNG LỰC NGƯỜI một cách thật sự.

Thực tế là, các thầy cô giáo không thể có đủ thời giờ giảng dạy tất cả với thời lượng cho phép ở trường. Không kể, với thực tế về trình độ hiểu biết nói chung của giáo viên hiện nay, thật khó để tin rằng họ có đủ khả năng truyền đạt tốt một nội dung vừa nặng nề vừa cồng kềnh như vậy. Càng rất khó để tin rằng những đầu óc non nớt của các em ở lứa tuổi tiểu học lại có thể tiếp thu và tiêu hóa tất cả kiến thức được cung cấp một cách dễ dàng. Hậu quả là hầu như tất cả học sinh đều phải đi học thêm.

Chuyện học thêm sau khi đã học ở trường cũng chính với những thầy cô giáo của mình là một thực tế và cũng là một sự vô lý ở bậc học phổ thông hiện nay. Đương nhiên, về lợi ích nó giúp cho các em có được những điểm số cao hơn và giúp thầy cô giáo có thêm tí thu nhập để bù vào đồng lương vốn rất còm cõi.

Nhưng nhìn kỹ nó tệ hại hơn tình trạng “dạy kèm ngoài giờ học chính thức” ở Hàn Quốc trước đây.

Ở Việt Nam, dạy thêm và học thêm đang trở thành một thói quen nguy hiểm. Nhiều học giả quan tâm đến giáo dục cho rằng tình trạng nói trên chẳng khác gì việc tạo ra một loại tham nhũng trong trường học.

Và nó đưa đến hai hậu quả vô cùng tai hại và rất phản giáo dục.

Thứ nhất là học sinh dễ trở nên mệt mỏi. Sẽ không còn bao nhiêu sức lực về đầu óc khi bắt đầu lên đại học. Và, nếu cố gắng qua khỏi được đại học thì dễ có khuynh hướng nghỉ ngơi về đầu óc và hưởng thụ hơn là để bắt đầu một hành trình vào đời thật sự của một người trẻ về cả thể xác lẫn tinh thần.

Thứ hai là nó khiến trẻ con chấp nhận sự tham nhũng ở trường học một cách tự nhiên, để rồi sau này vào đời sẽ coi chuyện tham nhũng là bình thường thôi, không là một vấn đề phải ngăn chặn hay tránh né.

Không cần biện luận cũng có thể thấy, một chương trình giáo dục như vậy đương nhiên đã cướp đi sự hồn nhiên, trong sáng và từ đó làm giảm sự phát triển trí thông minh của tuổi trẻ Việt nam.

  1. Vài đề nghị:
  2. Ngành giáo dục Việt Nam cần ngay lập tức giảm bớt mô thức giảng dạy áp đặt và tăng cường mô thức gợi ý. Cần xem các mục tiêu “trung thực”, “sáng tạo”, “tôn trọng sự khác biệt”, v.v., là những mục tiêu hàng đầu của giáo dục chứ không phải việc nhồi nhét kiến thức.
  3. Cần giảm thiểu tối đa sự mệt mỏi cho học sinh, nhất là học sinh cấp tiểu học. Đặc biệt, nên giảm hẳn lượng kiến thức hàn lâm trong chương trình học. Cần lo lắng cho một hành trình lâu dài hơn của con người. Không nên để thế hệ trẻ gục ngã sớm về đầu óc.

3.Đặt nặng vào việc đào tạo giáo chức và dành những đãi ngộ đặc biệt cho họ. Không cần phải học tập các ngành quân đội và công an cũng không nhất thiết phải chạy theo số lượng tuyển sinh cũng như các trường đại học, ngành sư phạm phải được tuyển chọn từ thành phần ưu tú nhất của đất nước. Chỉ có lòng tự hào, sự đãi ngộ và vị trí xã hội mới lôi kéo được các sinh viên ưu tú nhất vào các trường sư phạm, gần giống như cái cách mà nước Pháp đã dành cho sinh viên trường Normal Supérieur Université của họ, hay chính sách của Hàn Quốc từng thực thi. Điều này đòi hỏi một chính sách ưu đãi mạnh tay từ thể chế và một thái độ tôn trọng tuyệt đối từ xã hội.

  1. Đối với các trường đại học, ngoài việc áp dụng chương trình giảng dạy theo mô hình của các quốc gia tiên tiến, quyền tự trị đại học cần được ban hành.

Thiếu sự tự trị, đại học Việt Nam khó có thể hoàn tất vai trò đào tạo trí thức của nó.

Từ điểm chuyển hướng đó, họ mới có thể đóng góp cho đất nước bằng tất cả sức mạnh tinh thần, lòng hăng say, và niềm kiêu hãnh của họ.

  1. Nhà nước Việt Nam nên xem phát triển giáo dục toàn diện là ưu tiên hàng đầu của quốc gia, xem nguồn nhân lực được đào tạo qua giáo dục là tài nguyên quí giá nhất của đất nước.

Chỉ khi nhà nước quyết tâm xem phát triển giáo dục toàn diện là ưu tiên số một, nghiêm túc và biết chịu đựng kể cả việc nhận lãnh những trái đắng trong việc học hỏi kinh nghiệm của những quốc gia đã nhờ giáo dục mà đạt những thành tựu vượt bậc và bền vững thì giáo dục nước nhà mới có cơ may thoát ra khỏi khủng hoảng.

Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các nhà hoạch định chính sách giáo dục cần SUY TƯ nhiều hơn nữa về giáo dục và nên tính tới những mục tiêu lớn như đào tạo con người trung thực, có sáng tạo, có tư duy độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, v.v. hơn là chỉ nhằm vào sự chuyển giao tri thức.

Điều cần làm lúc này là phải biết can đảm quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.

NGUYỄN PHƯƠNG

NO COMMENTS