Một thời để nhớ…

0
156

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Một buổi chiều nắng đã tắt, năm mươi năm trước, tôi tới Saigon ở nhà chị Hai để tiện việc học hành. Gĩa từ mái nhà tranh, chia tay ngày tháng lêu lổng, phá phách lối xóm; tôi bắt đầu cuộc sống mới.

Ba năm đầu tôi học Nguyễn Bá Tòng. Mỗi sáng đạp xe đến trường khoảng mười lăm phút; không còn phải dậy sớm chờ đò dọc chở ra trường quận nữa. Tan trường, theo dòng xe cộ tấp nập trở về, thích thú ngắm cảnh, nhìn người; xa rồi những buổi trưa ngồi đò hàng giờ, đội nắng mưa vể nhà. Sau bữa trưa đạm bạc, nhanh chóng, tôi lên gác, ra bao lơn, gối đầu trên sách và ngủ thiếp đi trong cái nóng ngột ngạt tứ mái ngói thấp tỏa xuống.

Thức dậy, ngồi trên chiếc ghế gỗ cũ, dựa vào vách ván, tôi học bài; giờ này nếu còn ở quê nhà, tôi đã đi leo cây hay chui vườn bẻ trái, rượt đuổi nhau hay trầm mình dưới sông cùng mấy thằng bạn trời đánh thánh đâm rồi.Mải miết học tới khi tiếng trống trường gần đó vọng lại, tiếng nổ của đủ loại xe máy, tiếng xe đạp cót ket, tiếng chân bước, tiếng học sinh ơi ới dưới ngõ nhỏ vang lên và mùi xào nấu thơm phức từ nhà kế bên bốc lên; lời ca “Những nẻo đường Việt Nam, suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan, ôi những nẻo đường Việt Nam…” từ chiếc radio dưới nhà vọng lên, tôi bỏ sách vở, xuống nhà tắm rửa, giặt giũ. Ra hè, ngồi trên thùng đựng đồng hồ nước, trong hàng rào gỗ; tôi đọc báo, ngắm người qua lại.

Có tiếng xe Jeep đậu đầu ngõ, anh rể tôi từ trại lính đã về. Anh là Thiếu tá công binh, tu xuất, rất thanh liêm; có lần một người bạn thân cũng là sĩ quan lâu ngày không gặp, tới thăm, hết sức ngạc nhiên khi thấy anh ở xóm lao động bình dân này. Tôi đem sách vở xuống nhà cho anh khảo bài, xem bài làm. Có những lần ham chơi với bọn trẻ cùng xóm, hay mê phim của đài truyền hình Mỹ, nhất là bộ phim Wild Wild West, chiếu vào trưa, lúc đó nhà chưa có TV; tôi đi cùng xóm hay qua xóm bên để coi, quên học bài nên đã làm anh không vui. Anh luôn nói còn nhỏ ráng học mai mốt muốn học cũng chẳng có cơ hội nữa. Anh và tôi cùng có một sở thích: đọc sách.

Chiều nào cũng thế sau khi khảo bài xong, anh nghỉ ngơi chốc lát rồi cả nhà ăn cơm chiểu, sớm nhất xóm. Mâm cơm bày trên chiếc giường lớn, khuất sau tấm màn gió; mọi người ngồi lên xếp chân lại trên giường, anh và chị ngồi trên ghế nhỏ sát thành giường. Sau bữa cơm chiều, anh dạy cho cô con gái, học trường Tây. Tôi lên lầu, đọc báo hay sách, coi TV. Lúc bảy giờ rưỡi cả nhà đọc kinh tối. Mọi người đi ngủ lúc tám giờ. Năm lớp 12 tôi thức một mình dưới nhà để học bài tới mười giờ,

Những ngày nghỉ, tôi tới nhà bạn bè chơi. Tết đến, ngồi một mình trên gác,đọc báo xuân hay nhìn xuống ngõ coi người qua lại, lấy cái vui của người làm cái vui của mình vậy. Theo dòng đời, những ngày Tết sau này tôi không còn kiên nhẫn ở nhà nữa. Tôi lang thang ngoài phố, đi dọc theo những con đường quen thuộc, ngắm đủ loại hoa trái, nhìn người xuôi ngược trong đủ mọi kiểu áo đủ màu; những ngày này hiếm thấy các tà áo trắng nữ sinh mà chỉ thấy áo đầm, váy dài váy ngắn đủ kiểu sặc sỡ, tao nhã, thanh lịch của Sài thành.

Tôi vô ngồi hết công viên này đến công viên khác, một mình, bất chợt nghĩ đến quê nhà, nhớ về cái Tết cuối cùng ở cùng gia đình. Sáng mùng 1 Tết năm đó, tôi đang chơi bắn pháo bằng một khẩu súng gồm 4 vỏ đạn Garand, cột lại bằng dây thung thành hình chứ L; bỏ pháo vô một vỏ, châm lửa, pháo nổ, hơi dội vô, pháo bay ra xa. Chiếc radio trên tủ gỗ đang phát nhạc xuân bỗng ngưng lại rồi tiếng nam xướng ngôn viên quen thuộc đọc nhật lệnh kêu gọi binh sĩ các cấp về đơn vị gốc hay trình diện đơn vị gần nhất. Tôi không hiểu gì, tiếp tục chơi nhưng mẹ tôi lo sợ, đi ra đi vô miệng lẩm bẩm:” Chết rồi, có chuyện rôi.”.

Buổi chiều tiếng súng đại bác từ xa vọng về, máy bay rợp trời. Những anh lính về ăn Tết, trong đó có anh rể tôi và vài người hàng xóm, hấp tấp ra đi. Tối tới cả nhà ngủ trằn trọc, nhất là cha mẹ tôi luôn tỏ vẻ nóng nảy, đứng ngồi không yên khi ngoài trời sáng rực ánh hỏa châu, tiếng bom nổ dội tới rung rinh nhà. Hôm sau mới biết đã có những trận đánh đẫm máu ở ngoài quận, cách nhà bảy hay tám cây số, và ở con kinh đào dẫn tới quận, song song kinh nhà, cách khoảng bốn cây số

Sau đó khá lâu, đi học lại mới thấy cảnh tang thương của chiến tranh. Các mái nhà cháy rụi, những bức tường sụp hay lỗ chỗ vết đạn, cây cối tơi tả, có cây đổ gục, chưa được dẹp đi, đường bị cày xới, chấp vá. Chẳng còn gì nguyên vẹn; nhà nào cũng thấy thêm một bàn thờ mới. Đến trường mới biết đã bị “mượn” một máy phóng thanh, có bức tường đầy vết đạn. Trên cái hồ nước lớn của trường có hàng chữ:”Ngưng bắn 10 ngày?”. (Có dấu hỏi lớn ở cuối). Năm tháng sau, tôi giã từ gia đình, tới Saigon để học tiếp lớp 7.

Rời công viên, tôi đi về nhà. Đã xế chiều, Bóng mình đổ dài trên hè, thiên hạ bắt đầu ra phố, các quán kem, cà phê đã thấy bận rộn.…

Rồi một sáng sớm tuần đầu tháng 5 năm đó, theo vận nước nổi trôi; lòng tê tái, tôi trở vể quê cũ, bỏ lại Saigon một quãng đời thiếu niên và mấy năm năm đầu thời thanh niên. Thật khó mà quên được.

ERIC REMARQUE

NO COMMENTS