Chuyện người Sài Gòn cũng là chuyện của người Việt…

0
71

NGƯỜI SÀI GÒN

Người Sài Gòn của tui…
Cái tình của người Sài Gòn là vậy đó…
Ai chê người Sài Gòn “quê mùa” chứ…
Tính cách người Sài Gòn trọng nghĩa khinh tài
Người Sài Gòn “chơi được”, ​ghét giả dối, điêu ngoa
Tại sao người Sài Gòn ghét “sọc dưa” và thích làm ăn?
Người Sài Gòn…

Trong một lần làm việc với lãnh đạo TP.HCM trước đây, Thủ tướng Phan Văn Khải đã thẳng thắn chỉ ra một sự thật mà chưa có vị lãnh đạo nào dám nói : Sự phát triển của TP.HCM không phải là thành quả của sự lãnh đạo và quản lý của Đảng bộ và Chính quyền mà là thành quả tự thân của chính nó. Tôi có dự cuộc làm việc này, nên có thể diễn dịch ý của Thủ tướng Khải như sau: “Thành tựu kinh tế của Sài Gòn là hiệu số giữa sự phát triển tự thân mà lẽ ra nó phải có trừ đi những tổn thất do sự quản lý mà chính quyền gây ra. Vì Sài Gòn vốn là thành phố năng động có truyền thống kinh tế thị trường từ rất lâu đời, nếu không có sự kiềm hãm của bộ máy quan liêu thì sự phát triển thịnh vượng của nó chắc chắn đã vượt xa hiện tại.”

Nói vậy không có nghĩa là không có chính quyền thì tốt hơn là có chính quyền. Do chúng ta không thể không có chính quyền, nên chúng ta đành phải chấp nhận một mức phát triển tương đối chậm chạp. Điều may mắn là hơn 30 năm đổi mới, chính quyền đã từng bước bãi bỏ các quy định kiềm hãm sức sống của thành phố. Và mỗi một bước phát triển của thành phố đều gắn liền với quá trình bãi bỏ này. Có thể nói rằng “công lao” của chính quyền đối với sự phát triển thành phố không phải là làm những việc tốt gì cho dân mà là bỏ dần những việc xấu. Rất tiếc, sau những nhà lãnh đạo như Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, không một nhà lãnh đạo nào ở TP.HCM nhận thức được điều này.

Gần 400 năm trước, Sài Gòn được hình thành trong một bối cảnh đặc biệt của lịch sử. Sau khi Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gã con gái của mình là công chúa Ngọc Vạn cho quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II theo lời cầu hôn của vị quốc vương này vào năm 1620, 3 năm sau, quốc vương Chân Lạp đã cho nhạc phụ mình mượn 2 địa điểm là Kas Krobei và Brai Kor (đều thuộc Sài Gòn ngày nay), để lập 2 trạm thu thuế. Sau đó, triều đình Chân Lạp tặng luôn vùng đất này và lần lượt cả vùng đất Nam bộ cho các Chúa Nguyễn để trả ơn cho các Chúa Nguyễn bảo vệ triều đình Chân Lạp. Vùng đất này triều đình Chân Lạp chưa bao giờ cai quản trong thực tế. Và trong thực tế, người Việt đã đến đây (cùng với số ít người Khmer và người Hoa) sinh sống từ lâu trước khi Chúa Nguyễn đến tiếp quản.

Nêu chi tiết lịch sử đó để thấy, thoạt kỳ thủy các bậc “tiền hiền” của người Sài Gòn không sống “dưới sự cai trị” của chính quyền mà chính quyền ra đời là nhằm bảo vệ sự làm ăn sinh sống của họ. Sau các Chúa Nguyễn, triều đình nhà Nguyễn đối với Sài Gòn và Nam bộ cũng trên tinh thần đó. Thời Pháp thuộc, do Nam Kỳ là thuộc địa nên người dân nơi đây được hưởng các quyền tự do dân chủ và hoạt động thương mại gần như người chính quốc. Thời VNCH, dù đất nước trong tình trạng chiến tranh, Sài Gòn vẫn là Hòn ngọc viễn đông và người Sài Gòn gắn cuộc sống của mình với kinh tế thị trường suốt hai mươi năm. Lịch sử tạo nên tính cách của người Sài Gòn.

Người Sài Gòn dựa vào chính mình, nên họ sống khoan dung. Họ không cần chính quyền làm điều tốt cho họ, nhưng họ bao giờ cũng biết ơn những ai trả lại cho họ những gì vốn là của họ. Họ biết ơn ông Võ Văn Kiệt không phải vì ông mang cơm áo gạo tiền gì đến cho họ mà đơn giản chỉ vì họ biết ông là người đầu tiên quyết xóa ngăn sông cấm chợ để cho lương thực và hàng hóa được lưu thông. Họ biết chứ, ngăn sông cấm chợ không phải do trời tạo ra mà là điều xấu do chính quyền tạo ra, nhưng bỏ điều xấu đó đi là họ biết ơn rồi. Các nhà lãnh đạo chớ có kiêu ngạo nhé, là người Sài Gòn khoan dung cho các vị đấy, chứ bỏ một điều xấu do chính mình tạo ra thì ơn nghĩa gì!

Người Sài Gòn không cho mình tốt hơn, cũng không thấy mình xấu hơn người các địa phương khác. Bởi vậy họ không kỳ thị, không dị ứng với đồng bào từ các nơi khác đến sống ở Sài Gòn. Một thời gian dài có sự kỳ thị đối với đồng bào “nhập cư”, đó là sự kỳ thị từ chính quyền chứ không phải từ người dân Sài gòn. Người Sài Gòn chấp nhận mọi sự khác biệt.

Trong mọi chế độ chính trị, sự nghèo khổ và các tệ nạn truy cho cùng đều do chính quyền gây ra. Cũng như các địa phương khác, Sài Gòn còn nhiều tệ nạn, nhiều trộm cướp và không ít kẻ bất lương, nhưng người Sài Gòn không đổ lỗi cho chính quyền. Họ luôn luôn sẵn sàng hậu thuẫn chính quyền trong thi hành công vụ để giảm tệ nạn, giảm phiền nhiễu, nhưng họ rất ghét việc chính quyền giành thành tích cho “hệ thống chính trị” còn tệ nạn thì đổ lỗi cho dân.

Các nhà chính trị muốn “chơi” với người Sài Gòn thì nên khiêm tốn. Người Sài Gòn không đao to búa lớn, họ dị ứng với các khẩu hiệu “Ra sức”, “Tăng cường”, “Quyết tâm”, “Đẩy mạnh”, “Siết chặt”… Người Sài Gòn không thích ai dạy dỗ người khác về đạo lý, về văn hóa, về lý tưởng. Người Sài Gòn không muốn làm “đầu tàu”, không muốn trở thành “trung tâm”, không cần “cơ chế đặc biệt”, họ chỉ cần tháo bỏ các rào cản, bãi bỏ các quy định phiền phức gây khó khăn cho việc làm ăn sinh sống bình thường của mình.

Dù chính quyền mang đến nhiều tai ương, tai ương lớn nhất là cuộc “đánh tư sản” sau năm 1975 đã triệt tiêu sức sống hàng trăm năm của thành phố và để lại những di hại hết sức nặng nề, nhưng người dân bỏ qua những lỗi lầm của chính quyền trong quá khứ để hết lòng ủng hộ chế độ đã vì dân, vì sự hồi sinh của của đất nước mà tiến hành công cuộc Đổi Mới. Người dân cần sự bình an để giữ thành quả lao động của chính mình, họ không có ảo tưởng đổi đời.

Chuyện về người Sài Gòn cũng là chuyện của người Việt chúng ta.

HOÀNG HẢI VÂN

Sài Gòn, dân và quan chức!

Mười mấy năm lưu ngụ ở Sài Gòn, tự xa lạ mà thành thân thuộc, từ dè dặt mà thành chân tình.

Sài Gòn ngập nước một cơn mưa, Sài Gòn mất đi một tán xanh, Sài Gòn rộ tên quan chức sai phạm công sản, cấu kết bao che tội phạm… đều khiến minh suy nghĩ nhiều.

Sài Gòn dễ sống, cậu thiếu niên thôi học ở quê, cô thôn nữ đột ngột buồn chán luỹ tre làng, đôi vợ chồng miền Trung khốn khó… Họ có thể bỏ lại hết sau lưng để vào Sài Gòn tìm hy vọng. Một cơ sở may, một việc làm trông xe ở quán, một nồi bắp sau yên xe đạp, một quầy hủ tíu gõ, một quang gánh bánh tráng trộn, một bàn cà phê cóc vỉa hè…

Sài Gòn chật chội, nhưng Sài Gòn đủ chỗ cho tất cả.

Sài Gòn có thiếu gia ngày đổi siêu xe ba bận chở giai nhân đi ăn, dạo phố. Sài Gòn cũng có cậu sinh viên vét hết tiền đủ mua cho bạn gái một cây kẹo bông gòn.

Sài Gòn có bữa ăn cầu kỳ mươi triệu, có chai rượu mấy nghìn đô, cũng có cơm bao no mười mấy nghìn, có trà đá bánh mì miễn phí.

Sài Gòn có đại gia vung tay nghìn tỷ, có phu nhân túi xách trị giá một gia tài. Sài Gòn cũng có nhặt nhạnh tiền lẻ gửi về quê xa, có khuôn mặt vui mừng một manh áo từ thiện.

Sài Gòn cái gì cũng có, mà Sài Gòn cái gì cũng thiếu. Sài Gòn lạ đến mức ở bao nhiêu năm, thuộc từng con đường ngõ hẻm, vẫn không hiểu hết được Sài Gòn. Duy có điều chắc chắn, người Sài Gòn phóng khoáng.

Bạn ở phương xa vào, người Sài Gòn sẽ ngồi cùng cho đến khi bạn mệt thì thôi, nếu bạn cần. Bạn có việc nhờ, người Sài Gòn đã gật đầu giúp thì giả có phải nghiêng trời cũng cố cho bằng được.

Người Sài Gòn dễ ghét dễ yêu, yêu rồi thì thiên hạ đều xếp sau bạn. Ghét rồi thì thôi, xoá mặt xoá tên, xem như không còn tồn tại.

Yêu – ghét rạch ròi, hiện rõ trên khuôn mặt, không cần đãi bôi hay giấu diếm.

Làm quan chức sướng nhất phải ở Sài Gòn, quan chức giàu kệ quan chức, ở biệt thự đi siêu xe cũng kệ quan chức, con cái đi học nước ngoài định cư Châu Âu cũng mặc quan chức. Mỗi người một việc, duy có điều, quan chức không được bội bạc với người Sài Gòn, không được phép phỉ báng cảm xúc của người Sài Gòn.

Làm sao quan chức dám sử dụng cụm từ “vì nhân dân”, ngay lúc quan chức lấy đất của dân Sài Gòn một cách trái phép khi chưa xử lý xong, làm sao quan chức dám mượn danh dân Sài Gòn để thơn thớt phát ngôn trong một cuộc họp, làm sao quan chức có thể như những ông bà hội đồng thời phong kiến thực dân địa chủ để áp đặt ý chí và nguyện vọng của chính quan chức cho dân Sài Gòn.

“Lành làm gáo, vỡ làm muôi”, Sài Gòn có bao dung đến đâu, có khoáng đạt đến đâu cũng không thể nào chấp nhận những quan chức như vậy.

Làm sao chấp nhận được quan chức ăn cơm của dân Sài Gòn, uống nước của dân Sài Gòn, xài tiền của dân Sài Gòn rồi học thói vô ơn trở mặt với dân Sài Gòn như vậy được?!

Tuyệt đối không thể chấp nhận được!

NGÔ NGUYỆT HỮU

Nhà hát giao hưởng 1.500 tỷ và nước mắt Thủ Thiêm!

“Ủy ban Nhân dân TP HCM vừa trình Hội đồng Nhân dân thành phố chủ trương xây Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch đạt tiêu chuẩn quốc tế tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2), tổng mức đầu tư hơn 1.500 tỷ đồng từ nguồn ngân sách.

Nhà hát được xây với quy mô 1.700 chỗ, gồm hai khán phòng lớn và nhỏ. Thành phố đánh giá công trình này thật sự cần thiết và cấp bách, là biểu tượng văn hóa, điểm nhấn về kiến trúc, nghệ thuật của địa phương”, đây là bản tin trên báo gây nên cho tôi rất nhiều cảm xúc mâu thuẫn.

Thủ Thiêm, chưa bình yên cho đến giờ phút này.

1. Thanh tra Chính phủ đã công bố kết luận về những sai phạm tại Thủ Thiêm, những cố ý làm trái, những ký tá vượt thẩm quyền… Đó là một kết luận mà những người dân bỗng nhiên mất đất tại Thủ Thiêm đã phải trên đầu đội đơn, bàn chân rạc ngõ, tay mòn dấu gõ cửa kêu oan gần hai mươi năm trời.

Thủ Thiêm, bên cạnh những cao ốc, những khu đô thị mới, những đại công trường ngổn ngang thì còn có cả nước mắt, sự tủi phận, cơn phẫn nộ của những người dân tại nơi này.

Những người dân bị bứng ra khỏi căn nhà của họ, bị tước đi quyền lưu trú trên mảnh đất hợp pháp của họ, bị chiếm đoạt những ký ức trên từng mớ rau nền nhà của họ….

Thủ Thiêm, luôn ứ đọng một cơn sóng dưới đáy sông, mãi cho đến nay vẫn chưa bình lặng hay được hoá giải, lòng người vẫn âm ỉ ngóng vọng về một ngày hiện hữu hai chữ “công bằng”.

2. Trong bất cứ một quốc gia phát triển nào, cũng cần có một nhà hát giao hưởng. Để có một nhà hát giao hưởng, cần phải có nghệ sĩ, loại hình văn hoá kén chọn người thẩm thấu nghệ thuật rất cầu kỳ.

Muốn có nhà hát giao hưởng, phải có nhạc trưởng, phải có nghệ sĩ biểu diễn, phải có thính giả có trình độ, phải có lòng người thoải mái hân hoan. Chứ không chỉ đơn giản có nhà hát giao hưởng nghĩa là được tăng hạng về văn hoá nghệ thuật.

Văn hoá là một quá trình, nghệ thuật cũng là một quá trình. Mà muốn văn hoá lẫn nghệ thuật phát triển, không còn cách nào khác ngoài chuyện nâng cao đời sống từ tinh thần cho đến vật chất của người dân.

Khi mà hơn mười triệu dân của thành phố vẫn hoảng hốt trước một cơn mưa vì sợ ngập nước, khi mà hơn mười triệu dân của thành phố luôn cảm thấy mỏi mệt khi kẹt xe vào giờ tan tầm, khi mà mười triệu dân thành phố vẫn hoang mang với cái cách chống ngập theo lối “nâng đường biến nhà dân thành hang”, khi mười triệu dân thành phố vẫn thấy những hàng cây bị san phẳng để cho một cây cầu vượt mấy năm trường vẫn chưa động thổ… thì bàn về nhà hát giao hưởng lúc này, cũng từa tựa như một gia đình thiếu ăn vay nợ mua xe ô tô đi với mục đích duy nhất là “cho bằng thiên hạ”.

3. Quan trọng hơn hết, khi nỗi oan của người dân Thủ Thiêm vẫn chưa được giải hết, thì cũng khoan bàn về chiên trống cười đùa.

Hãy thương lấy cảm xúc của nhân dân, hãy lo lắng khi lòng dân đang rệu rã.

Bao giờ Thủ Thiêm được vén mây mờ sáng tỏ, bao giờ thành phố hết bụi bẩn ngập nước kẹt xe, bao giờ những tán xanh vẫy vùng cùng nắng sớm… Khi ấy bàn về nhà hát giao hưởng cũng chưa muộn.

Còn giờ, thành phố nên đẩy nhanh tiến trình giải quyết sau khi Thanh tra Chính phủ đã có kết luận về những sai phạm tại Thủ Thiêm thì sẽ an dân hơn.

Có thành phố nghĩa tình nào lại để lòng dân bời bời khói lửa vậy không?!

NGÔ NGUYỆT HỮU

NO COMMENTS