Sợ bị hớ…

0
82

Chuyện vườn rau Lộc Hưng không là chuyện riêng…
Đất đai,,,
Thâm và gian…
Tết & nước mắt Lộc Hưng…
Những giọng Bắc…
Phép thử Lộc Hưng…

Sợ bị hớ…

(Bài viết chắc chắn sẽ đụng chạm rất nhiều người, nhưng xin lỗi tôi vẫn muốn viết nó)

Trong hầu hết các sự kiện giữa nhà cầm quyền và người dân, tôi nhìn thấy đa số các học giả, luật gia, nhà báo, những người có tiếng nói chỉ lao vào mổ xẻ khi mọi thứ đã tan nát hết, khi mà một nỗi đau nào đó đã hiện hữu trước mặt họ.

Có phải các anh chị sợ mình sẽ bênh sai cho người dân và làm mất đi tiếng nói của mình? Tôi cũng nhiều lần sợ như vậy lắm, sợ mình chưa nắm kỹ mà nói rồi người khác cười cho.

Giữ mình ở thế trung lập và đưa tin chuẩn xác là tốt. Nhưng giá như mà các anh chị nghĩ nhiều hơn đến oan khuất và nỗi đau của những người thấp cổ bé họng. Tôi tin chắc các anh chị sẽ bước ra khỏi cái máy tính và chiếc điện thoại của mình để tìm đến với những người đang cần mình lên tiếng.

Trong vụ vườn rau Lộc Hưng, cũng như nhiều vụ việc khác, tôi thường thấy nhiều người luôn nói tại sao người dân không chịu trưng ra bằng chứng pháp lý mà chỉ nói miệng. Nhưng tôi không thấy được mấy người đến và hướng dẫn cho người dân làm điều đó.

Người dân, họ không hiểu biết, vì vậy họ cần luật gia tư vấn và cần nhà báo khai thác thông tin.

Vào cái đêm trước ngày bị san phẳng, người dân vườn rau mừng rỡ nói với nhau rằng, sau bao nhiêu ngày báo chí trốn tránh họ, cuối cùng cũng có một tờ báo là Sài Gòn Giải Phóng đến tìm họ và họ đã cho coi hết giấy tờ liên quan rồi.

Giấy tờ đó, đúng sai tôi chưa cần biết. Nhưng tôi thiết nghĩ là là một nhà báo hay là một luật gia trách nhiệm của họ phải là lên tiếng trước khi đau thương xảy đến với người dân và sự việc đi quá xa cách khắc phục.

Thế nhưng, hiếm có sự trợ giúp nào cho họ trong giờ phút họ cần nhất. Thậm chí tôi thấy có những luật gia, sau khi nhà người ta bị ủi sạch, đồ người ta bị cướp trắng, ngồi đó một chỗ, phân tích những giả định của luật rồi nói những người lên tiếng là cẩn thận bị hớ.

Tôi nhớ trong một buổi học luật, luật sư Lê Công Định từng nói với tôi rằng, khi anh ra nước ngoài học về luật anh phải bắt đầu học lại từ đầu vì tất cả những thứ luật anh học được ở Việt Nam đều trật hết. Ở nước văn minh, điều luật được xây dựng vì quyền lợi của nhân dân, lấy dân làm trọng điểm bảo vệ. Còn ở Việt Nam không phải thế, luật Việt Nam được xây dựng để quản lý, cai trị người dân. Cái khác nhau này làm lên sự oan sai và bất công ở Việt Nam ngày càng nhiều.

Hơn nữa, tôi tin chắc những ai học luật Việt Nam đều nhìn thấy rõ rằng nó chồng chéo và vì phạm Hiến pháp như thế nào. Chúng ta đang sống trong chế độ Cộng Sản, chế độ độc đảng toàn trị. Trong chế độ này, nếu ngồi đó để các anh chị moi móc về luật phân tích thì kiểu gì thì kiểu người dân cũng không bao giờ có thể đúng hoàn toàn.

Trong cái giờ phút mà người dân cần các anh chị nhất, các anh chị không có mặt. Trong lúc các anh chị chưa chịu đi tìm hiểu, tìm các bằng chứng, văn bản, giấy tờ người dân đưa ra, các anh chị ngồi giả định với nhau và đưa ra các ví dụ tận đâu đó, những giả thiết từ cái bộ óc của mình và khuyên nhau cẩn thận đừng nóng nảy lên tiếng.

Thật sự tôi thấy các anh chị đáng sợ hơn cả những kẻ ủi phá nhà dân ngày hôm trước.

Với những người ngồi phân tích giả định đúng sai là một loại cảm xúc, với những người có khả năng lên tiếng trước đó nhưng không, chỉ khóc thương sướt mướt, bênh vực người dân bằng những bài viết sau khi chuyện đã rồi tôi lại có một thứ cảm xúc khác nữa. Rất khó diễn tả cảm xúc khi tôi đọc các bài viết hay đầy lý lẽ của họ.

TRẦN KIM TIẾN

Vườn Rau Lộc Hưng nhìn dưới khía cạnh pháp lý

Sự kiện nổi bật nhất trong những ngày qua là khu Vườn Rau có diện tích khoảng 5 hécta của bà con dân oan Lộc Hưng, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình đã bị nhà cầm quyền Tp.HCM bình địa thành đống tro tàn, tường gạch đổ nát, sắt vụn ngổn ngang chỉ trong vòng hai ngày vào ngày 04 và 08/01/2019 mà không tuân theo thủ tục pháp luật quy định, vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và Pháp luật VN.
Nguồn gốc

Đất Vườn Rau thuộc quyền quản lý và sở hữu của bà con từ những năm 1954 do Giáo hội Công Giáo cấp, được bà con sử dụng đất ổn định và liên tục cho đến hôm nay. Điều này đã được Linh mục Huỳnh Công Minh, Tổng Đại diện của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Giáo phận Sài Gòn, với tư cách chủ đất khẳng định với các cơ quan có thẩm quyền vào năm 2007. Đất của bà con Vườn Rau sử dụng ổn định và lâu dài (từ năm 1954 cho đến nay, gần 65 năm) với mục đích canh tác thể hiện qua các biên lai nghĩa vụ (1982 và 1983), phiếu thu đóng góp nghĩa vụ (1983), bản đồ diện tích đất Vườn Rau… Và Giáo hội Công Giáo và bà con chưa bao giờ từ bỏ quyền sử dụng đất Vườn Rau, cũng như chưa bao giờ bà con ký bất kỳ một văn bản nào của các cấp có thẩm quyền để tước bỏ quyền sử dụng đất của mình.

Về pháp lý

Đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng chưa bao giờ thuộc quyền quản lý và sở hữu của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN, chính nhà cầm quyền này đã “ăn cướp” của người nông dân nghèo một cách trắng trợn và ngồi xổm trên pháp luật. Bởi lẽ:

Thứ nhất: Vào thời điểm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất Vườn Rau thuộc quyền quản lý và sở hữu của bà con Lộc Hưng do Giáo Hội Công Giáo cấp vào những năm 1954.

Thứ hai: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Hội đồng Chính phủ lâm thời miền Nam đã ra các văn bản khẳng định “giải quyết tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân phải trên cơ sở nguyên canh là chính”, “Nhà nước chỉ quốc hữu hoá các đồn điền và ruộng đất của các tư sản nước ngoài”…; và ra các văn bản chỉ thị “đăng ký, thống kê sử dụng đất” mà sau này được xem là các giấy tờ hợp pháp… Cụ thể:

1) Quyết định số 31/QĐ-76 về việc quản lý và sử dụng ruộng đất của Hội đồng Chính phủ lâm thời miền Nam ngày 17/6/1976; và Chỉ thị số 235-CT/TW ngày 20/9/1976 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề ruộng đất ở miền Nam. Theo đó, quy định giải quyết tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân phải trên cơ sở nguyên canh là chính.

2) Quyết định số 188-CP ngày 25/9/1976 của Hội đồng Chính phủ về chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam. Theo đó, Nhà nước quốc hữu hoá các đồn điền và ruộng đất của các tư sản nước ngoài.

3) Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Nội dung cơ bản có Thống kê, đăng ký đất và UBND xã phải kiểm tra…;

4) Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước. Trong đó có nêu: “… đăng ký thống kê sử dụng đất trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam theo từng đơn vị hành chính trong từng cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng đất. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng đất có nhiệm vụ chấp hành đúng mọi thủ tục về đăng ký ruộng đất theo quy định của Tổng cục Quản lý ruộng đất”.

Chính vì lẽ vậy sau năm 1975, bà con Vườn Rau đã “thống kê”, “đăng ký”, “đo đạc” ruộng đất với các cơ quan có thẩm quyền trong “công tác quản lý ruộng đất” của nhà nước thông qua các biên lai “thu thuế” nên có đầy đủ cơ sở xác lập QSD đất.

Xin được nói thêm, tại điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Khoản 16, Khoản 17 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP: Qui định các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của chính phủ gồm:

Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

a- Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

b- Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

c- Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại điểm a và b khoản này.

Trường hợp trong đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất có sự khác nhau giữa thời điểm làm đơn và thời điểm xác nhận thì thời điểm xác lập đơn được tính theo thời điểm sớm nhất ghi trong đơn;

d- Giấy tờ về việc chứng nhận đã đăng ký quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh cấp cho người sử dụng đất;

đ- Giấy tờ về việc kê khai đăng ký nhà cửa được Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh xác nhận mà trong đó có ghi diện tích đất có nhà ở;

e- Giấy tờ của đơn vị quốc phòng giao đất cho cán bộ, chiến sĩ làm nhà ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo chỉ thị số 282/CT_QP ngày 11 tháng 7 năm 1991 của Bộ trưởng Bộ quốc phòng mà việc giao đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất làm nhà ở của cán bộ, chiến sĩ trong quy hoạch đất quốc phòng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Một điểm cần nhấn mạnh Hiến pháp 1980 đầu tiên của Nước CHXHCNVN quy định tại Điều 20: “…Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật…” Và Luật Đất Đai đầu tiên được ban hành và có hiệu lực vào năm 1987 quy định: “…Người đang sử dụng đất đai hợp pháp được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này…”

Chính vì vậy, bà con Vườn Rau Lộc Hưng canh tác lâu dài và ổn định trên khoảng 5 hecta đất ngụ tại đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình “đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình” và “người đang sử dụng đất đai hợp pháp được tiếp tục sử dụng” mà không cần đến cái gọi là “sổ đỏ”. Bà con Vườn Rau có đầy đủ căn cứ pháp lý để được nhà cầm quyền “công nhận quyền sử dụng đất” cho các hộ dân sinh sống lâu đời trên mảnh đất cha ông của mình đã để lại. Vụ việc nhà cầm quyền cưỡng chế đất của bà con trong các ngày 04 và 08.01.2019 đã phá hoại tài sản trên đất của bà con là hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật Đất Đai và đi ngược lại với chủ trương của Hiến pháp năm 1980.

(Trong bài kế tiếp, chúng tôi sẽ nêu rõ cơ sở pháp lý đối với cái gọi là Đất công và “các công trình trái phép” xây dựng tại Vườn Rau.)

Pv.GNsP

VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI “VƯỜN RAU LỘC HƯNG NGẬM NGÙI THÁNG CHẠP” CỦA NHÀ BÁO CÙ MAI CÔNG

Những dòng chữ của nhà báo Cù Mai Công (từng làm báo tại Khăn quàng đỏ, Mực tím, Tuổi trẻ – có thể ở những báo khác nữa mà tôi không biết) vừa đánh thức tôi về ký ức trẻ thơ vừa dẫn tôi đến nhận định pháp lý chắc chắn.

1. Đoạn đầu khá dài của bài viết, tác giả cho biết mình là người sống khu Ông Tạ, gần vườn rau Lộc Hưng (VRLH), rồi ông mô tả những hình ảnh tuổi thơ ghi nhận được hoặc nghe loáng thoáng các câu chuyện “tám” của ngươi lớn. Thú vị khi ông mô tả về khu vực VRLH là

“Khu này nghèo rớt, nghèo từ hồi những cư dân Bắc di cư 1954 tới ở gần đó, quanh con hẻm mà giờ mang tên Chấn Hưng. Đám con nít Ông Tạ, trong đó có nhà thơ Đỗ Trung Quân và… tôi cũng ít tới đây vì lầy lội và mùi phân hôi thối suốt ngày đêm từ cái ao ủ phân tưới trong khu vực gần 5ha này. Ngựa xe qua lại khu này có khi phải bịt mũi…”

Trái với tác giả, thơ ấu của tôi khi đến khu VRLH này như là cơ hội được đi dã ngoại. Nhà tôi theo số nhà cũ là 88/79/35A Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, ngay xóm 6 giáo xứ thuộc DCCT SG nơi tôi đang ở và làm việc. Tôi có bà dì Bảy (bà ngoại tôi là chị cả, còn bà dì Bảy là áp út trong gia đình ông cố ngoại tôi) nhà ngay đầu đường/hẻm Chấn Hưng, và bà cố Ri (thân mẫu 2 cha Thắng và Khương, nhà đối diện xéo đền thánh Phêrô Thi) là dì tôi.

Từ năm 1974 (5 tuổi) đến mãi năm 1983 (14 tuổi), tháng nào tôi cũng được mẹ dẫn ra đường Lê Văn Duyệt đón xe buyt đi qua trạm nghĩa trang Đô Thành là xuống. Cũng có khi đi bằng xe Lambro, thỉnh thoảng đi xe ngựa. Chúng tôi vào xứ An Lạc chơi với bà ngoại và các con của cậu Bình (em kế của mẹ tôi). Khi về thay vì đứng đợi xe buýt ở trạm, mẹ dẫn tôi vào nhà bà Bảy chơi, xe đến dừng ngay trước hẻm, bước ra 10 thước là lên xe. Hôm nào mẹ tôi không gấp việc nhà sẽ dẫn vào trong sâu thăm chú dì Ri. Đến đó, tôi nhìn VRLH mà miên man pha trộn những hình ảnh trong các câu chuyện đồng quê đã được đọc trong tủ sách Tuổi Hoa (do cha Chân Tín DCCT lập), thỉnh thoảng cũng chạy ào qua phía VRLH đó (đối diện nhà dì) cho thỏa chí tưởng tượng.

Ký ức tuổi thơ đẹp và thú vị thế đó, nhưng không phải là tư liệu lịch sử, càng không phải là bằng chứng pháp lý.

2. Nhà báo Cù Mai Công cũng cho biết: “Trước 1975, có lúc, thương phế binh VNCH sau khi cắm dùi chiếm đất khu đường Hoàng Văn Thụ hiện nay, đoạn từ ngã tư Bảy Hiền đến Lăng Cha Cả đã nhào vô khu Lộc Hưng cắm dùi nhưng bất thành vì chính quyền lúc đó ngăn chặn quyết liệt. Xéo xéo gần đó là một trại lính nhảy dù đa số gốc Bắc di cư 54 cũng khá dữ dằn”, khơi lên cho tôi câu hỏi:

Tại sao chính quyền lúc đó ngăn chặn thương phế binh VNCH vào VRLH?

Phải chăng vì đất VRLH không phải là đất hoang, mà là đất có chủ, nên chính quyền có bổn phận bảo vệ quyền lợi hợp pháp của dân cư nghèo từ Bắc di cư vào VRLH. Chắc chắn là như vậy rồi chứ không vì liên quan đến an ninh quân sự như cách nói ám chỉ “xéo xéo gần đó là một trại lính nhảy dù đa số gốc Bắc di cư 54 cũng khá dữ dằn”.

3. Nhà báo Cù Mai Công thật sự có lòng với cư dân VRLH, nên đã chỉ ra thực tế hiện nay cho thấy nhà nước cộng sản đương quyền đã đối xử bất công với các công dân VRLH. Đây là một bày tỏ đáng trân trọng của tác giả bài viết: “Đất công thì rõ ràng rồi. Thế nhưng cũng khu vườn rau, ở phía ngoài, mặt tiền đường Cách Mạng Tháng Tám thì hàng chục năm nay đã thành dãy nhà 3, 4 tầng từ lúc nào – không rõ đơn vị nào phân, hợp thức hóa? Nghĩa là đất công khu vườn rau đã thành đất tư từ lâu – sổ hồng, sổ đỏ đàng hoàng”.

Tuy nhiên tôi không rõ “khu vườn rau, ở phía ngoài, mặt tiền đường Cách Mạng Tháng Tám” (dài lắm, tôi cũng đã thấy như vậy thời bé) có phải đất công như tác giả nhận định hay không, còn riêng đất VRLH thì không phải đất công, đó là đất có nguồn gốc rõ ràng, đất tư nhân.

Đất không biết có nguồn gốc hay không thì đã được nhà nước hợp thức hóa để xây nhà cao tầng 3,4 tấm, nhưng không biết tại sao đất có nguồn gốc rõ ràng lại không được cấp chứng nhận, để xây dựng hợp luật? Chỉ có thể là chính sách chung và nhất quán là cướp đất có nguồn gốc Công giáo (tập thể Giáo hội và cá nhân Tín hữu) bằng mọi giá, vì Công giáo cuối cùng cũng lấy tình bác ái ra mà chịu đựng, bỏ qua. Tuy nhiên cũng tùy thời mà Hội thánh biết mình cần phải diễn tả lòng bác ái thực sự như thế nào cho đúng, nhất là không bao giờ được bỏ người nghèo để hùa theo thế quyền hay phú quý lộng hành, kể cả nhân danh luật, mà lại làm sai.

Đất của VRLH là đất có thổ công, cư dân VRLH là người có bằng khoán. Toàn bộ giấy tờ nguồn gốc xa xưa đến giấy tờ ủy nhiệm và nhất là giấy xác nhận Giáo hội Công giáo tại Sài Gòn không tranh chấp với dân VRLH đều đã được Phòng công chứng ở thành phố này công chứng. Các cơ quan có chức năng, bổn phận giải quyết đất đai và khiếu kiện là UBND quận Tân Bình, UBND Tp.HCM, Thanh tra chính phủ,… đều đã có đủ bộ giấy tờ hoàn chỉnh, theo luật hiện hành là tương đương với bản gốc.

Không chỉ “ngậm ngùi tháng chạp” đâu, mà các công dân VRLH nói riêng, công dân Việt Nam nói chung sẽ ngậm ngùi dài lâu sang Giêng, qua Rằm rồi lại đến Chạp mới, nếu những người theo cộng sản xem ý chí cách mạng của mình quan trọng hơn quyền sống còn, quyền cư trú, quyền hưởng lợi chính đáng của các công dân. 

Toàn văn bài viết của nhà báo Cù Mai Công:
VƯỜN RAU LỘC HƯNG NGẬM NGÙI THÁNG CHẠP

Khu vực vườn rau Lộc Hưng (Tân Bình, TP.HCM) là đất công từ xưa thuộc tỉnh Gia Định nhưng nằm cách Sài Gòn vài chục mét; với tấm bảng cắm trước đường Bắc Hải, góc Nghĩa địa Đô Thành (nay là Công viên văn hóa Lê Thị Riêng): “Đô thành Sài Gòn kính chào các bạn”.

Cụ thể nó thuộc Tổng nha Bưu điện VNCH (khu Nhà dây thép gió Chí Hòa). Sau này, thuộc quyền quản lý của Bưu điện TP. HCM. Góc khu này, ngay sát con hẻm nay là đường Chấn Hưng có một nhà bưu điện nhỏ (hình như mang tên Chí Hòa – tôi không nhớ rõ) mà hồi thập niên 1980 tôi thường hay đạp xe đạp đến đó gửi thư.

Đó là khu vực ngoại ô Ông Tạ, điểm cuối cùng của khu Ông Tạ về hướng đông. Và cũng là điểm bắt đầu của một trong các cửa ô ra ngoại ô Sài Gòn trước 75. Nếu khu ngã ba Ông Tạ với những cư dân ban đầu người Hà Nội bỏ tiền mua đất (chứ không nhận nền chính quyền Sài Gòn cấp ở Xóm Mới – Gò Vấp, Bình An – Q.8…) toàn nhà 3, 4 tầng với các tiệm vàng san sát thì khu Lộc Hưng là dân miền núi Sơn Tây nghèo bị dạt ra ngoài.

Cũng thuộc khu Ông Tạ nhưng bà con khu này không dư giả tiền bạc để buôn bán như dân ngã ba Ông Tạ nên đã trồng rau kiểu tranh thủ đất trống trong Trạm phát tín của chính quyền Sài Gòn. Dân Ông Tạ gọi là Nhà Dây thép gió vì trong đó chằng chịt những dây cáp níu giữ các cột phát sóng cao nghễu nghện.

Việc tranh thủ này hình như được sự đồng ý hay thỏa thuận gì đó giữa những người quản lý khu này và bên nhà thờ trước 75. Sau 75 không có thỏa thuận nhưng bộ phận quản lý khu này thuộc Bưu điện TP.HCM cũng mặc nhiên thừa nhận. Tất cả đều không có văn bản cụ thể. Phức tạp ở chỗ đó vì nói sao cũng được.

Khu này nghèo rớt, nghèo từ hồi những cư dân Bắc di cư 1954 tới ở gần đó, quanh con hẻm mà giờ mang tên Chấn Hưng. Đám con nít Ông Tạ, trong đó có nhà thơ Đỗ Trung Quân và… tôi cũng ít tới đây vì lầy lội và mùi phân hôi thối suốt ngày đêm từ cái ao ủ phân tưới trong khu vực gần 5ha này. Ngựa xe qua lại khu này có khi phải bịt mũi…

Trước 1975, có lúc, thương phế binh VNCH sau khi cắm dùi chiếm đất khu đường Hoàng Văn Thụ hiện nay, đoạn từ ngã tư Bảy Hiền đến Lăng Cha Cả đã nhào vô khu Lộc Hưng cắm dùi nhưng bất thành vì chính quyền lúc đó ngăn chặn quyết liệt. Xéo xéo gần đó là một trại lính nhảy dù đa số gốc Bắc di cư 54 cũng khá dữ dằn.

Thế là bà con khu này lại tiếp tục trồng rau và đi lễ ở một vài nhà thờ, đền thánh nói cho ngay khá khiêm tốn so với các nhà thờ, đền thánh Công giáo quanh ngã ba Ông Tạ. Gần đây, một số gia đình dựng nhà trọ cho thuê với giá rẻ bèo so với các khu khác. Tại sao? Con đường Chấn Hưng vô khu này như hẻm cụt; giá đất khá rẻ, trong khi đường Bắc Hải chạy song song cách đó vài chục mét to rộng, thông thoáng sang quận 10 giá cao ngút trời.

Đất công thì rõ ràng rồi. Thế nhưng cũng khu vườn rau, ở phía ngoài, mặt tiền đường Cách Mạng Tháng Tám thì hàng chục năm nay đã thành dãy nhà 3, 4 tầng từ lúc nào – không rõ đơn vị nào phân, hợp thức hóa? Nghĩa là đất công khu vườn rau đã thành đất tư từ lâu – sổ hồng, sổ đỏ đàng hoàng.

Còn phía trong khu vườn rau chưa ai có sổ gì, thế là 112 hộ nơi đây bỗng thành những người lấn chiếm đất công – dù họ đã ở, sinh sống nơi đây từ 1954, tức tới giờ người ở lâu nhất đã 65 năm – mấy thế hệ. Những người ở đầu tiên 1954 giờ chắc cũng về đất gần hết. Giờ toàn thế hệ sinh sau đẻ muộn, lớn lên với tiếng kinh cầu xứ nghèo và “vườn rau xanh ngắt một màu” thì họ cho rằng đây là nhà mình, đất cha mẹ, ông bà mình để lại cũng dễ hiểu.

Và càng dễ hiểu khi bà con ở đây tin chắc đây là đất của mình khi cho rằng mình “đã đóng thuế 20 – 30 năm có đầy đủ giấy tờ pháp lý…; đất vườn rau sử dụng đất 1954…”. Bà con nơi đây cũng cho rằng theo Luật Đất đai 1993, nếu người dân sử dụng đất ổn định từ trước 15/10/1993 – ngày luật Đất đai 1993 có hiệu lực pháp luật , Nhà nước có trách nhiệm phải công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà con. Nếu nhà nước thu hồi xây trường công lập thì phải bồi thường, bất kể người dân có giấy hay không có giấy – tức sống thực tế 2/3 thế kỷ, gần một đời người.

Thế là họ không chịu rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún của mình. Thế là sáng 8/1/2019, lực lượng cưỡng chế ra tay. Ngày 9/1, lãnh đạo UBND Q.Tân Bình, TP.HCM cho biết đã hoàn thành việc cưỡng chế tháo dỡ 112 trường hợp xây dựng nhà trái phép tại khu vườn rau, phường 6, quận Tân Bình. Ngày 10/1, các lực lượng Công an, dân phòng… vẫn dày đặc khu vực ra vô vườn rau Lộc Hưng…

Giờ đã tháng Chạp. Chỉ hơn 3 tuần nữa tết rồi. Đi ngang khu vườn rau Lộc Hưng những ngày này lúc nào cũng kẹt cứng do xe cộ bị chặn lại ở đầu đường Chấn Hưng.

Cư dân Lộc Hưng lẫn chính quyền ai đúng ai sai thế nào có lẽ chưa hết tranh luận, thậm chí dai dẳng. Thế nhưng, cái rõ nhất mà một đồng nghiệp người Đà Nẵng của tôi bảo: Ở Hà Nội, Đà Nẵng…, như Đà Nẵng chẳng hạn, “năm nào cũng vậy, cứ cận tết là có thông báo không được giải tỏa cưỡng chế trong dịp giáp tết. Mọi việc đều ra tết mới giải quyết…”.

Nghe sao mà ngậm ngùi. Tháng Chạp ở vườn rau Lộc Hưng – ngoại ô, xóm nghèo vòng ngoài khu Ông Tạ của chúng tôi suốt một thời tuổi thơ len lỏi vườn rau bắt dế đêm hè…

… Rạng sáng 10/1/2019, tôi đi ngang vườn rau. Gió đông cuối năm nay chỉ man mát nhưng sao nghe lạnh quá. Tết tới nơi rồi mà buồn gì đâu! Lẽ nào vậy là hết những “vườn rau xanh ngắt một màu”…

LÊ NGỌC THANH

NO COMMENTS