Thày tôi…

0
117

THÀY TÔI.

Năm 1971 tôi học lớp 10B1, trường Hưng Đạo, Saigon. Lớp học kế bên nhà để xe. Qua khung cửa sổ của bức tường chung, lúc ra chơi, tôi thường thấy một thày ngồi trên yên xe, tay cầm ly nước, uống chút một. Thày hay mặc áo trắng, ngắn tay , đeo kiếng xám. Vẻ mặt bình thản của thày làm tôi chú ý nhất.

Năm sau tôi học lớp 11B10 cùng trường. Ngày khai giảng tới lớp ghi thời khóa biểu và danh sách giáo sư. Lại được học Toán với thày Nguyễn Toản Nhung. Ngạc nhiên và thích thú nhất là môn Việt văn do thi sĩ Bàng Bá Lân dạy. Tôi biết đến thi sĩ Bàng Bá Lân ngay từ thời tiểu học, khi đọc tạp chí Phổ Thông, mục “Những áng thơ hay” do ông phụ trách, phê bình thơ Hàn Mặc Tử.

Tôi thắc mắc sao có họ Bàng lạ hoắc. Năm lớp 6, một buổi sáng ngồi chờ đò dọc ra học ở trường quận, tôi mở radio và nghe được bài bình luận của ông nói về Nguyễn Công Trứ. Từ lớp 7 tôi học ở Saigon. Vì xa xôi ,chiến tranh, lại nghỉ ít ngày nên Tết đến tôi không về nhà. Ngồi trên gác nhỏ, nhìn thiên hạ nhộn nhịp đi lại, tôi đọc báo xuân, thế nào cũng đọc được thơ Tết của ông, khiến tôi nhớ đến Tết ở quê nhà, với phong tục mà cha mẹ và hàng xóm vẫn giữ khi di cư vào miền Nam này. Nhớ tối 30 ráng thức chờ mẹ nấu bánh chưng để được ăn miếng đầu tiên hay qua nhà hàng xóm coi nấu bánh tét rồi ngủ gục lúc nào không hay; nhớ món chè lam mẹ tôi làm dịp đó:

Buổi học Việt văn đầu tiên tới, tôi mong mỏi được gặp thi sĩ đã đi vào ký ức. Nhìn ra cửa chờ. Thày bước vô. Tôi nhận ra liền— chính là vị giáo sư hay ngồi ở nhà xe lúc ra chơi năm trước. Tay cầm túi hình vuông bằng vải màu đậm có bài soạn trong đó; bước đi nhanh nhẹn; có lần Chuyên, ngồi bàn dưới, nói “Thày mình không có vẻ thi sĩ, khác với thi sĩ Tạ Ký dạy lớp kế bên”, Thày Tạ Ký để râu mép, bước đi tà tà, như mơ màng, trên miệng lúc nào cũng có tẩu thuốc lá, tay xách cặp.

Bài kiểm đầu năm giải thích đoạn thơ đầu của truyện Lục Vân Tiên, tôi dược nhiều điểm nhưng kèm lời phê ”Cần chú ý dùng đúng từ ngữ”. Suốt năm học Thày giải thích rõ ràng nhiều từ ngữ, tới giờ tôi vẫn nhớ như phải nói “Hợp chúng quốc” mới đúng, “chúng” là nhiều, đông; “ chủng” là “giòng giống”; tương tự “chúng cư” không phải “chung cư”. Chẳng qua vì dùng sai lâu ngày ngưởi ta quên nghĩa đúng, chấp nhận luôn; giống như “quá giang” là qua sông nhưng đi xe ké cũng gọi là “quá giang”. “vụ” hay “việc” là đủ vì vụ nghĩa là việc rồi. Chỉ cần nói “Riêng rẽ”, hay “riêng” là đủ, nói riêng biệt là sai, vì “biệt”, gốc Hán Việt, nghĩa là riêng rồi.

Khi nói đến từ ngữ “đặc biệt” thày cảnh cáo đừng để bị lừa vì ý nghĩa của nó. “Đặc” là một, “biệt” là riêng, chỉ riêng mình nó thôi, như vậy có thể là đặc biệt tốt, đặc biệt dở; đừng nghe nói “đặc biệt” mà ham. Thày chỉ rõ khác nhau giữa “phê bình” và “phê phán”. “Phê bình” để tìm ra cái hay cái dở, “phê phán” để chỉ trích. Sau này đọc cuốn “Kỷ niệm văn nghệ sĩ miền Nam” của thày thấy nói đến Vũ Hạnh. Vũ Hạnh, có lẽ không có tình cảm với thày, nên khi biết thày sẽ ra sách giáo khoa ông liền lên tiếng sẽ “phê bình “ nó.

Thày trả lời chấp nhận mọi ý kiến phê bình để làm sáng tỏ chỗ hay chỗ dở của sách, không phải để chỉ trích mà thôi. Khi học bài thơ “Chơi núi An Lão”, nghe tiếng cười của đám con trai cuối lớp, thày liền nói “các con đừng nghĩ chơi là chơi bời, chơi có nghĩa du ngoạn, ngắm cảnh”. Thày là một trong hai giáo sư suốt thời trung học của tôi, gọi học sinh là “các con”, người kia là thày Nguyễn Văn Hai, dạy Việt văn lớp 8A1 Nguyễn Bá Tòng.

Câu “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm” đúng ra là “ Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm”; vọc là phá, quậy, làm dơ; niêu là nồi,tiếng miến quê xứ Bắc. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, có câu “Lom khom dưới núi tiều vài chủ, lác đác bên sông rợ mấy nhà” có người đọc sai thành “chợ”mấy nhà. Thày giải thích làm gì có chợ ở nơi đó. “Rợ” là tiếng dân mình gọi người thiểu số trong rừng núi. Thày cũng cho biết “ngoài kia” người ta tìm ra tên của bà Huyện TQ là Nguyễn Thị Bích. Thày phê bình câu thơ Nguyễn Du tả Thúy Kiều có “mày ngài”. Thày giảng “mày ngài” to như con sâu làm gì đẹp nhưng không thể thay thế “mày ngài” bằng từ ngứ khác được. Tôi chợt nhớ tới bài viết của thày trong tở Phổ thông nhan đề “Kẻ hậu bối Bàng Bá Lân dám chê thơ Nguyễn Du”. “Tú” là đẹp, “tài” là giỏi; nhưng “Tú tài” để đó chưa xài. “Cử” là cất, nhắc, đưa lên; “nhân” người. “Cử nhân” có thể làm việc được rồi. Thày hứa sau này sẽ giải thích tại sao gọi “Tiến sĩ” là “nghè” nhưng không thấy thày nói đến, có lẽ đã quên.

Thày có tài về thơ đồng quê nhưng một lần thày tâm sự, hầu như thi sĩ nào khi bắt đầu cũng làm thơ tình và thày cũng sáng tác một số bài. Thày còn nói chọn đường nào ít người đi nhất dễ thành công hơn. Đọc thơ thày thấy hồn dân tộc lãng đãng đâu đây. Hai câu thơ “Hỡi cô tát nước bên đàng. Sao cô lại mục trăng vàng đổ đi” trong một bài thơ thày sáng tác năm 1935 đã trở thành ca dao.

Thày còn làm một bài thơ về Giang sinh được dịch ra tiếng Latin. Thày cũng là nhiếp ảnh gia được giải quốc tế, bạn với nhiều nhiếp ảnh gia nổi tiếng. Một ngày của thày rất bận rộn, có lần học sinh nói chuyện quá thày dậm chân chỉ tay vào đám học sinh đó, nói :” Kìa, các con, ồn quá. Thày bỏ thì giờ dạy mà không nghe.” Năm đó thày phụ trách mục “Hương hoa Đất nước” trên đài truyền hình Việt Nam. Thày nói nhiều khi bực mình vì trưa về nhà, mới thay áo treo lên ghế để nghỉ thì có khách đến.

Giờ học với thày luôn làm tôi chú ý nghe một cách thich thú vì có được kiến thức văn học và kinh nghiệm sống. Cho con kiến thức, một nghề, không cần tài sản nhiểu. Muốn sống thọ, dễ lắm, chỉ cần điều độ, đứng phí sức, chơi bời, rượu chè. Thày kể chuyện về Khái Hưng về Phạm Duy, lúc đó mới biết Phạm Duy là họ và tên đệm của một dòng họ. Khi Khái Hừng bị bắt, ồng gửi thư tới bạn cũ dạy trường Thăng Long, lúc đó làm lớn, cầu cứu nhưng vô ích, Thày nói những kẻ đó chẳng coi cha mẹ ra gì mà.

Nguyễn Văn Vĩnh là bạn của ba thày, lâu lâu đến nhà thày chơi, người ông “phục phịch”, đi xe mô tô, có lần rủ ba thày đi tìm vàng bên Lào, có đêm máy rà vàng đến nhà thày. Nhất Linh trước lúc tự tử có lẽ tinh thần không ổn nên trong thư tuyệt mạng viết “…việc đán áp các phần tử đối lập quốc gia..”, đúng ra là “…việc đàn áp các phần tử quốc gia đối lập…”. Nói về TT Ngô Đình Diệm, thày cho biết “cái quan luận định”, đóng nắp quan tài mới định được xấu tốt, nhưng khó mà định được ông Diệm, nếu có thì công nhiều hơn tội.”

Năm lớp 12, nghe đồn có chương trình mới, thêm môn Việt Văn, khác những năm trước môn Triết thay thế, nhưng chưa có quyết định chính thức. Trường tư học trước nên khi vào lớp 12B6 Hưng Đạo, tôi lại được học với thày. Bài đầu tiên “Văn chương là gì?”, thày giảng thêm về văn học, văn nghệ, tư tưởng. Khoảng hai tháng sau, chương trình được công bố, không có môn Việt văn, lúc từ giã thày than chương trình hay quá mà bỏ, người ta nói “Nén bạc đâm toạc tờ giấy, ở đây, Nén bạc đâm toạc chương trình.” Sau đó tôi qua học Võ Trường Toản và không bao giờ gặp lại thày nữa.

Một buổi trưa, lâu lắm rồi, tình cờ đọc một bài trong Kiến thức Ngày nay, tác giả Viêm Võ (?) viết về thày, mới biết thày đã qua đời tại Saigon. Cách đây hai năm trong một bài phát thanh của VOA, nói về một khoa học gia không gian họ Phạm, qua Mỹ lúc19 tuổi, làm bồi bàn, là cháu nội của cố sử gia Phạm Văn Sơn và cháu ngoại của thày. Nhìn mặt anh, tôi nhận ngay ra trán của thày mình. Sau này được biết thày trở thành tín hữu Công giáo, tên thánh là GiuSe trước khi từ trần.

ERIC REMARQUE

 

NO COMMENTS