Vẫn còn đó hai dòng suy nghĩ…

0
122

 

Untitled-1

Tình cờ lục trong đống giấy tờ cũ thấy tập kỷ yếu “Giải thưởng báo chi TP.HCM” lần thứ bảy – năm 1988, có bài “Vẫn còn đó hai dòng suy nghĩ…” Đọc lại thấy bài viết đã gợi lại những kỷ niệm khi là phóng viên nông thôn của đài Tiếng Nói Nhân Dân TP.HCM. Đã  hơn 28 năm trôi qua nhưng đời sống của người nông dân vẫn luôn phải đối phó không chỉ thiên tai mà cả nhân tai: tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm… !!??

******

Về cái thiếu không bình thường giữa mùa nắng hạn và giáp hạt!…

Bản tin Nhà Bè số 5 bộ mới có đăng trên trang nhất một mẫu tin nhỏ như sau: “Tình trạng thuốc điều trị tại các điểm sơ cấp cứu thuộc ấp 2, xã Hiệp Phước đang gặp nhiều khó khăn, các loại thuốc trị bệnh thông thường như nhức đầu, cảm sốt… đều không có. Đa số bà con ở khu vực này đều phải bơi xuồng vượt sông sang xã An Thới Đông, huyện Duyên Hải để khám bệnh và mua thuốc”.

Xin giới thiệu thêm: xã Hiệp Phước là một xã điểm của thành phố và của huyện Nhà Bè trong việc thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, và nơi đây đã là cảm hứng cho một bộ phận phim video cassette màu sắc lộng lẫy do ngành y tế thành phố thuê thực hiện để tuyên truyền, trong đó có cảnh mô tả những dòng sông Hiệp Phước rất nên thơ và những chiếc cầu… khỉ lắc lẻo gập ghềnh điểm xuyết cho một loạt hình ảnh các đoàn cán bộ y tế về phát biểu, hội nghị, hội thảo, hội thoại để… săn sóc sức khỏe ban đầu.

Xã điểm săn sóc sức khỏe mà còn vậy thì… dẫu cho hết sức dè dặt để khỏi bị mang tiếng là: “quơ đũa cả nắm”, chúng tôi cũng không thể không tự hỏi: hổng biết sức khỏe của bà con nông dân ở các xã không phải là xã điểm sẽ như thế nào?

Và đối với Nhà Bè, bên cạnh tình trạng thiếu ăn triền miên mà mùa này là mùa gay gắt nhất, nay lại có thêm tình trạng thiếu người trị bệnh cho dân và thiếu phương tiện trị bệnh. Cả hai nhu cầu tối thiểu làm nên cuộc sống tối thiểu, có đáng suy nghĩ chăng?

Nhân nói đến chuyện thiếu thuốc cho người, chúng tôi báo động thêm về tình hình thiếu thuốc cho cây lúa đang làm cho bà con nông dân nhiều xã ở Nhà Bè kêu trời như bộng mấy hổm rày mà… kêu hoài hổng thấu!

Về xã Nhơn Đức tuần rồi, giữa cánh đồng trống trải sau một mùa nước mặn ngập nay đã bắt đầu nảy lên xanh mướt những hồi mạ mùa, chúng tôi bị con nông dân bao vây than phiền.

– Các chú có biết không, tới giờ này vẫn không có một giọt thuốc trừ sâu nào cả, mà con còng thì vô số kể, nó phá mạ kinh hồn.

Ông Nguyễn Văn Tấn ở tập đoàn 17 mở đầu câu chuyện như vậy và tiếp theo các ông Tư Lễ, Sáu Kịp, Ba Tiền ở tập đoàn 16 và 17 cùng nhau bổ sung chi tiết vẽ nên bức tranh về việc cung ứng thuốc trừ sâu ở đây như sau: Nhà nước thì không có thuốc bán, còn ở thị trường tự do trong xã, trong huyện thì đầy dẫy, đủ mọi loại giá. Méthyl Parathion 5.000 đồng/chai cũng có mà loại 10.000 đồng, 12.000 đồng/chai cũng có, giả thiệt lẫn lộn, nhiều bà con mua lầm về xịt sâu rầy chết đâu không thấy, chỉ thấy mạ chết phải gieo đi gieo lại hết sức tốn kém, “có người bắt thử một nắm còng bỏ vô tô thuốc, nó uống hết rồi nó bò lổn ngổn đi chơi tiếp”.

Đó, nguyên văn lời kể giàu hình tượng của bà con nông dân như vậy, chúng tôi xin ghi trung thực lại để những ai có liên quan thử xét xem là chuyện bi hay chuyện hài. Mà dẫu cho bà con có cường điệu đôi chút, cũng không thể vì thế mà phủ nhận thực trạng này,đó là: để tự cứu mình, cứu những cánh đồng vốn ít ỏi của mình, cứu những thúng lúa giống cuối cùng còn sót lại mà dù bụng đói cũng không bao giờ dám rớ tới, bà con nông dân ở đây đã phải chèo ghe qua Chợ Đệm, huyện Bình Chánh để mua bằng được thuốc thiệt, thuốc đó do một tư nhân bán với giá 8.000 đồng/chai, dù mắc nhưng chắc ăn.

Ông Tư Tấn, ông Tư Mễ, ông Ba Tiền lôi chúng tôi tới tận nhà để xem tận mắt mặt thuốc, đó la chai Méthyl Parathion do Chi cục Bảo vệ Thực vật thành phố sản xuất, người chủ bán thuốc tư nhân đó có ký tên bảo đảm đàng hoàng: nếu về xài không hiệu quả xin các ông cứ mời công an lại bắt tôi, còn nếu tốt xin làm thinh cho tôi làm ăn!

Tư nhân đưa thuốc tận tay nông dân có bảo chứng minh bạch song phẳng như vậy – liệu các đơn vị quốc doanh có cách nào tổ chức tốt bằng như thế không? Chúng tôi xin chuyển lời chất vấn này của bà con đến các ngành các cấp có liên quan.

Về hai điều ghi nhận nhỏ ở Nhà Bè trong tháng nắng hạn và giáp hạt này: thuốc chữa bệnh cho người phải nhờ xã An Thới Đông, huyện Duyên Hải giúp, thuốc cho cây lúa phải nhờ Chợ Đệm – Bình Chánh giúp… chắc chắn đàng sau cả hai hiện tượng, không thể không thấy đã lấp ló một nỗi băn khoăn lớn của bà con nông dân: Huyện và xã sơ tại quản lý cái gì?

Ở xã Nhơn Đức: Vì sao bà con nông dân thiếu nợ và ai là người thiếu nợ nhiều nhất?

Theo những tài liệu chính thức được công bố, trong vòng ba năm trở lại đây, năng suất và sản lượng lúa của huyện Bình Chánh có chiều hướng không ngừng tụt giảm, mặc du vùng lúa năng suất cao của huyện được coi là một trong những vùng lúa quan trọng nhất của thành phố.

Ngược lại, sản lượng lúa của huyện Nhà Bè từ 16.207 tấn năm 1980 đã tăng lên 22.271 tấn năm 1985. Những năm tiếp theo sản lượng chung không biết vì lý do gì, có sụt giảm đôi chút nhưng vẫn trên dưới 20.000 tấn. Vùng lúa năng suất cao của huyện này đã tạo ra được một năng suất rất đáng chú ý trong những điều kiện tự nhiên hết sức khó khăn mà ai cũng biết: từ 3,5 tấn/ha đến 4,3 tấn/ha.

Xã Nhơn Đức, với diện tích canh tác khoảng 900 hecta là một trong những xã lớn của huyện, nhất định có sự đóng góp không nhỏ vào thành tích chung nói trên của huyện Nhà Bè. Năm vừa rồi, gặp khó khăn thời tiết, năng suất bình quân của xã cũng không giảm bao nhiêu.

Thế nhưng, các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp trong xã lại thiếu thuế và thiếu nợ vật tư gối đầu từ năm này sang năm khác. Mới đầu, xã còn coi là chuyện bình thường… “Thôi để thư thả cho bà con lại sức, có vốn tích lũy”… Thế nhưng khi con số lúa thuế lên đến 111.855 kg và lúa nợ vật tư hợp đồng 2 chiều là 38.501 kg thì xã mới cảm giác rằng… Hình như đây là chuyện không bình thường lắm! Bởi vì, toàn xã chi có 1.032 hộ, 1 hợp tác xã và 13 tập đoàn sản xuất – mà hết 947 hộ và 13 tập đoàn thiếu nợ, chiếm tuyệt đại đa số!!

Chẳng đặng đừng, phó chủ tịch phụ trách nông nghiệp của xã là đ/c Trần Văn Lợi bên trực tiếp mở cuộc điều tra. Mới xem qua sổ sách, thoạt tiên tưởng chừng như việc quản lý ở các tập đoàn, hợp tác xã rất rạch ròi, kế toán có trình độ khá vì danh sách từng hộ thiếu thuế và nợ vật tư trong từng năm được liệt kê rất đầy đủ, minh bạch…

Dè đâu, kiểm tra tới, đối chiếu chứng từ và tiếp xúc trực tiếp với bà con xã viên, xã mới bật ngữa ra: Hai phần ba số lúa nợ vật tư 2 chiều trong tổng số 38.501 kg vật tư qui lúa đã chui tọt vào hầu bao của các ban quản lý tập đoàn, hợp tác xã từ thuở đời nào, bảng danh sách các hộ thiếu nợ mà xã có trong tay chỉ là… danh sách “ma” để che đậy cho sự chiếm dụng vô nguyên tắc đó. Than ôi… có nhiều bà con mắc tiếng oan bao nhiêu năm nay, vậy mà chưa chắc họ đã biết!

Phó chủ tịch xã Trần Văn Lợi trình bày công khai với chúng tôi tên tuổi những người “nổi cộm” nhất trong số cán bộ quản lý này là: Nguyễn Văn Thành, tập đoàn trưởng TĐ 16 nợ 884 kg lúa; Huỳnh Văn Tài, tập đoàn trưởng TĐ 16 nợ 735 kg; Lê Kim Tiền, tập đoàn trưởng TĐ 17 nợ 837 kg; Trần Văn Lý, tập đoàn trưởng TĐ 8 nợ 445 kg; Nguyễn Văn Lộc, tập đoàn trưởng TĐ 18 nợ 402 kg; Lâm Minh Hoàng, kế toán TĐ 17 và Cao Văn Lộc, kế toán TĐ 6 mỗi người nợ trên dưới 600 kg lúa… Bảng danh sách những người thiếu nợ thật này đến đây chưa phải là hết!

Nghiêm trọng hơn cả trong số này là hành vi của tập đoàn trưởng Trần Văn Lý ở TĐ 8, ngoài việc chiếm dụng lượng vật tư quy đổi ra 445 kg lúa, rồi vu cho bà con như đã nêu, Trần Văn Lý còn ăn chận 110 kg gạo của huyện trợ cấp cứu đói cho những bà con nghèo. Thử nghĩ đến tình cảnh của người nông dân xã Nhơn Đức, hàng ngày phải qua tận xã An Thới Đông, huyện Duyên Hải lượm từng con còng về bán mà vẫn không yên, bị nhân viên thuế vụ xã An Thới Đông tra hỏi, hạch sách, đánh thuế lên đánh thuế xuống… mới đánh giá được hết bản chất của Trần Văn Lý và những cán bộ quản lý loại này.

Ông Lý đã vậy, tập đoàn phó của ông Lý là Nguyễn Văn Tiến cũng không chịu thua: trên 14 công đất tốt của xã viên đã được ông xáo qua xáo lại cuối cùng…lọt hết vào tay anh em dòng họ như ông Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Văn Sửu… Và tới đây thì, có lẽ ngân hàng huyện Nhà Bè cũng đừng nên ngạc nhiên vì sao TĐ 8 xã Nhơn Đức là một trong 2 TĐ được ngân hàng đầu tư khá đồng bộ để hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng khép kín 53 hecta ruộng, xây dựng mô hình lúa-tôm-dừa… Nhưng đến nay vẫn chưa hoàn vốn được. Chẳng có gì lạ, ngay chính bà con tập đoàn viên ở đây cũng không biết mỗi vụ thu hoạch được bao nhiêu tôm cá, bán được bao nhiêu, tiền để ở đâu!??

Ông Năm – ông xin dấu tên thật – là một lão nông ở đây, sau hơn 1 giờ nói chuyện vòng vo và biết chắc tôi thiệt tình muốn tìm hiểu đời sống hiện tại của bà con nông dân, mới bày tỏ suy nghĩ thật trong tiếng thở dài:

– Nông dân ít học nên rất quí trọng những người có học, khi cần thì hỏi han… Nhưng tôi thấy hình như những người có học đều vô dụng hết vì họ không giúp ích gì được cho chúng tôi trước những chuyện mà “quan trên” không biết, “quan dưới” cũng không biết…

Vô dụng hay vô hiệu? Không chỉ có tôi, phóng viên của đài, mà trong căn chòi lá giữa đồng buổi trưa nắng gắt đó còn có đồng nghiệp ở báo Sài Gòn Giải Phóng cùng nghe. Ắt có nhiều điều nên ngẫm trong lời trách cứ của ông Năm và các bà con hiện diện. Nhưng điều có thể thấy ngay là: người nông dân ngày ngày đầu tắt mặt tối, có lẽ lộ trình mà họ trải qua trong năm khó vượt khỏi phạm vi xã, huyện… Và khi họ coi người lãnh đạo gần gũi của mình là “ QUAN” thì vấn đề chắc là rất đáng băn khoăn…

Ghi chép nãy giờ chỉ mới phản ảnh được phần nào tình hình “Ai mới đích thị là người thiếu nợ vật tư Nhà nước. Còn vì sao người nông dân thiếu thuế lương thực triền miên?” Chúng tôi xin nhường lời cho anh Nguyễn Văn Hòa, một tập đoàn viên khác của xã Nhơn Đức:

– Hộ tôi có 7 nhân khẩu, trong đó có 2 lao động chính, được nhận khoán 8 công đất loại công 625 mét vuông. Sau một vụ làm cật lực, trừ thuế, trừ công gián tiếp và để các thứ quỹ… Năm được mùa nhất chúng tôi cũng chỉ còn 50 – 60 giạ lúa, tiện tặn lắm thì tạm đủ ăn trong 10 tháng…

Để có thể tin được rằng trường hợp gia đình anh Hòa không phải là cá biệt, chúng tôi xin giới thiệu thêm một vài số liệu thống kê khác của xã: từ 3 tháng nay, toàn xã Nhơn Đức có trên 50% hộ thiếu ăn.

Được mùa cũng thiếu ăn! Câu hỏi vì sao nông dân thiếu thuế – Tưởng đã có lời đáp!

Năng suất không ngừng tăng: vui mừng – sản lượng không ngừng tăng: phấn khởi. Điều đó có thể hiểu được ít nhất trên bình diện kỹ thuật và cũng có thể chấp nhận khi chưa phân tích, kết quả đó do tác nhân lãnh đạo cấu thành. Nhưng nếu yên tâm với những con số, coi đó là dấu hiệu của nông thôn mới, e rằng quá sớm!

Hình như trên bình diện xã hội, con số sản lượng và năng suất tự nó chưa đủ sức tạo ra một khái niệm nào để nhận thức được bộ nông thôn.

Có một câu hỏi về đại danh từ “chúng ta”

Cũng như xã Nhơn Đức, mùa này nông dân xã Long Thới lại thiếu ăn nghiêm trọng: 50% tổng số hộ phải chạy vạy từng bữa. Cái ăn của người nông dân có cầu kỳ gì cho cam: 1 nồi cơm, mớ cồng bắt ngoài ruộng, vài con nhái soi đêm tối, nắm cá xô, thậm chí nhiều bữa chỉ có một miếng mắm ruốc, mắm tôm đủ thấm đũa liếm đưa cơm hoặc miếng thịt “cọp” – tiếng lóng gọi món “muối hột đâm” – ngay cả nhúm rau, trái ớt cũng bứt đại đâu đó ngoài vườn. Vậy mà nạn thiếu ăn vẫn thường xuyên đeo đẳng bà con mười mấy năm nay.

Tôi được Ban chủ nhiệm hợp tác xã Long Thạnh giới thiệu với một số nông dân chuyên nghiệp cha truyền con nối, hình như ai cũng có tâm sự, mặc dù hằng ngày nụ cười của họ vẫn còn tươi, bước chân vẫn chắc. Không chắc sao được khi phải gánh cuộc sống trên cánh đồng lầy thụt. Đó là bác Từ Văn Son, chị Nhữ Thị Hai ở đội 3, ông Nguyễn Văn Quen, anh Lê Hồng Cường ở đội 1, anh Dương Văn Còn ở đội 3…

Bác Từ Văn Son kể chuyện:

– Hồi trước, bọn địa chủ bóc lột hết một nửa sản lượng lúa má mà chúng tôi làm ra, trung bình một công đất nhỏ – bằng 625 mét vuông – phải nộp tô tới 5 giạ lúa, cao lắm. Nhưng bù lại, mỗi người có thể làm được 3 – 4 mẫu ruộng cho nên cuộc sống vẫn cứ thoải mái, ván ngựa, tủ kiếng cứ sắm. Dĩ nhiên, vẫn có một số bà con phải làm nghề hạ bạc vì thiếu kinh nghiệm làm ruộng, hoặc vì một lúc nào đó nhà lỡ có việc tốn kém không đủ lúa nộp tô bị chủ lấy ruộng lại.

So sánh như vậy chắc chắn bà con không có ý nuối tiếc cuộc sống cũ. Có sướng ích gì đâu một cuộc sống bấp bênh một cổ hai tròng. Chính vì muốn giải phóng mình, vì cuộc sống mới, bà con ở đây mới sắt son suốt hai thời kỳ kháng chiến, Long Thới tuy không phải là xã căn cứ, nhưng truyền thống của xã Long Thới cũng không kém chiều sâu. Long Thới trong những năm gian nan ác liệt nhất đã gởi một lớp con em mình cho Đảng cho cách mạng, như đồng chí đương kim chủ tịch huyện chẳng hạn.

Điều mà bác Son cũng như những bà con khác muốn nhấn mạnh ở đây, tôi cảm nhận được rằng đó là chuyện đất ít người đông, người hồi cư về, người sinh sôi nẩy nở thêm… đã đưa dân số Long Thới ngày càng tăng nhanh sau giải phóng. Qua điều chỉnh ruộng đất, bình quân một lao động chính được nhận khoán từ 1.200 tới 1.600 mét vuông đất.

– Với khoảng đất như vậy – anh Lê Hồng Cường nói – làm giỏi mấy cũng không đủ ăn, mà năng suất đâu phải vô hạn, nó lại lệ thuộc chặt chẽ các khoản tái đầu tư, nhưng tất cả những cái này chúng ta đều thiếu.

Vấn đề cần bàn ở đây, giải phóng rồi, người nông dân Long Thới cũng như người nông dân nơi khác, với đầu óc thực tế chắc là họ không mơ ước được tự do đi bắt còng, soi ếch không bị người xét hỏi, giấc mơ của họ hẳn là lớn hơn, là được tư do làm ăn, bắt đất nhả ra của cải, con cái họ có những ngành nghề nào đó thu hút vào. Thế nhưng, một HTX và 9 TĐSX của xã cho đến nay vẫn chưa có nơi nào tổ chức được ngành nghề gì khả dĩ tạo thêm thu nhập cho bà con.

Đã vậy, cuộc sống tập thể của họ nào phải tự do gì cho cam. Chuyện cũng chẳng phải gi xa xưa: Trong mùa điều chỉnh ruộng đất năm 1983, một bí thư xã đã lợi dụng chức quyền quơ hết ruộng đất tốt về cho bà con dòng họ. Chuyện hiện tại: Khi quyết định khép kín đê bao cánh đồng mênh mông 160 hecta của HTX Long Thạnh mới thành lập non ngày non tháng thì có Huyện quyết, đúng chủ trương chính sách rồi xã quyết theo. Bao xong, nuôi tôm trồng lúa, đầu tư khoa học kỹ thuật nửa mùa, quản lý thì không xuể, tôm cá mỗi ngày một ít đi không bù đắp đủ chi phí đắp đê, dặm vá cống bộng… HTX mang công mắc nợ chồng chất, mà lại nợ ngoại tệ nữa chớ. Cứ cho là huyện và xã sẽ gánh bớt phần nào số nợ này cũng cần phải xem lại, có cần thiết như vậy hay không? Làm ăn ở mức độ vừa phải phù hợp trình độ, lỡ có thua lỗ, nợ nần cũng vừa sức trả, suy nghĩ của người nông dân chưa thoát khỏi giới hạn này và thực tế cũng chưa cho phép họ nhìn xa hơn. Thế thì cái nhìn xa không hộp qui luật để mang nợ lớn ắt phải trả giá.

Chỉ có một HTX Long Thạnh đã mang nợ tới cả chục triệu đồng và nông dân toàn xã đang nới tới 127 tấn lúa thuế, đàng này Nhà Bè có tới 12 HTX, 62 TĐSX trong đó tới 70% là yếu kém, rõ ràng cái sinh hoạt gia đình vốn ở mức thấp của mỗi tập đoàn viên, xã viên sẽ càng nhỏ nhoi thêm biết chừng nào trước cái gánh nặng “70% yếu kém” đó!

Chúng ta tung hô sáng kiến, chúng ta cổ vũ mô hình, mà chúng ta không chú ý hoặc chưa đủ sức dự tính, dự báo về hiệu quả thực tế của sáng kiến, của mô hình đó, chưa thấy hết những thiếu thốn vật tư, tiền vốn, kể cả thiếu chính sách. Nếu cứ tưởng rằng đại danh tư “chúng ta” trong trường hợp như vậy la bao gồm cả: nông dân – HTX – Nhà nước… thì chắc phải xem lại cách tưởng đó!

Những lời mộc mạc của người nông dân dẫn tôi đến những cam nghĩ như vậy!…

Vẫn còn đó hai dòng suy nghĩ…

Đứng trước cánh đồng triều ngọt đang dâng mùa mưa, anh Lê Kim Tiền, TĐ trưởng TĐ 17 xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè không khỏi băn khoăn tiếc rẻ: “Đất đai thế này mà chỉ làm có một vụ rồi bỏ không thì uổng quá!”

Thật vậy, hồi trước tập đoàn quản lý các khâu thật chặt chẽ đúng “đường lối” tập thể hóa… thì đành chịu, chứ còn bây giờ cởi mở rồi, ruộng đất được khoán tới hộ, mạnh nhà nào tự lo liệu hết – từ phân đến giống, tội gì không tính toán cho kỹ tìm cách tận dụng thêm sức người trong khi… sức đất hãy còn thừa thải!

Thế là Ba Tiền tính và Ba Tiền bắt tay hành động, rủ thêm Huỳnh Văn Hai và Nguyễn Văn Lực, hai người có ruộng liền khoảnh với Ba Tiền gộp lại tổng cộng 3,5 hecta, cùng nhau bao bờ làm thủy lợi nhỏ, vừa chủ động được nước tưới cho lúa, vừa biến đám ruộng trên thành ra hồ nuôi cá tự nhiên, bờ đê thì hóa ra hàng rào dừa gáo và bạch đàn. Chưa kể bầy vịt thời vụ ba bốn trăm con được thả để kiếm thêm. Riêng hộ anh Nguyễn Văn Lực vì không đủ lao động nên chỉ góp ruộng, trực tiếp tham gia làm bờ là ông Huỳnh Văn Đẩu mặc dù ruộng của ông ở nơi khác.

– Vậy thì ăn chia thế nào? – tôi hỏi.

Anh Ba Tiền chặt mạnh tay trong không khí, đáp rạch ròi:

– Chia đều phần tôm cá từ mặt nước, ông Đẩu góp sức, ông cũng được phần như chúng tôi, còn phần cây trồng đương nhiên ông không được chia.

Kết quả vụ mùa năm 1987, anh Ba Tiền, anh Hai và anh Lực thu được năng suất lúa bình quân trên 3,6 tấn/ha, không cao hơn những năm trước vì thời tiết thất thường, nhưng nếu không có công trình thủy lợi nhỏ đó thì chắc chắn năng suất lúa sẽ còn thấp hơn. Lượng tôm các anh đã xổ được là 300 kg hơn, không tính số lượng cá các loại. Lấy thời giá tháng 7 này để hình dung, mỗi ký tôm đó vào khoảng 14 – 15.000 đồng. Thế thì, trong cách chia đều nói trên, anh Đẩu chỉ góp sức, vậy anh có được lợi thế hơn chăng? – Ba Tiền giải thích:

– Tôm cá chỉ là sản phẩm phụ, cái lợi của bờ bao đâu phải chỉ có tôm cá, trong hợp tác đừng nên quá ke re cắc gắc.

Ngẫm lại mà coi, rõ rang đúng vậy, người nông dân khi đã có sẵn thói quen làm hàng hóa, họ biết nhìn ra đâu là cái lợi thật sự không cần ai chỉ dẫn, và họ không chi li nhưng lại rất sòng phẳng, cái sòng phẳng có nguồn gốc từ sự thỏa thuận tự nguyện.

Tôi lại hỏi Ba Tiền:

– Thế vốn liếng tổng cộng các anh bỏ ra là bao nhiêu?

Vẫn nụ cười tự tin và giọng hơi ề à vì ban sáng anh mới vừa đi “ăn giỗ”, anh Ba Tiền đáp:

– Có tốn gì đâu ngoài sức lao động, dừa tụi tui cũng tự ươm luôn, hiện chưa thu hoạch dừa nên chưa tính toán được mức lời. Tụi tui đang chuẩn bị tiếp mùa tôm cá 1988 và trong tập đoàn kỳ này cũng sẽ có nhiều bà con khoanh bờ hợp tác làm ăn kiểu như vậy!

********

Có điều gì mới mẽ trong cách làm ăn của nhóm anh Ba Tiền ở xã Nhơn Đức không? Nhận xét chủ quan của tôi là không và ý kiến của các anh cũng thế. Hai năm trước đây, HTX Long Thạnh sau nhiều phen loay hoay tìm cách thực hiện chỉ đạo… “Hãy đẩy mạnh thâm canh đi…”, cuối cùng, bà con xã viên thấy gỡ thế bí theo kiêu đó chẳng khác gì chuyện “con cá đua bơi quanh con cua đá” – nên đã mạnh dạn trở lại với kinh nghiệm của mình với sự chi viện của lực lượng khoa học kỹ thuật trẻ, làm ra mô hình lúa-tôm-dừa, tương tợ cách làm ăn của nhóm anh Ba Tiền, nhưng qui mô lớn hơn, do xã viên HTX quản lý.

Hiệu quả của mô hình có rõ rệt đó, nhưng rồi với một bộ máy quản lý cồng kềnh đủ thứ quỹ, một trình độ quản lý chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu nhảy vọt như mong muốn, sau vài mùa ăn-xong-rồi-chia-chác, mô hình để lại trên đầu xã viên gánh nợ khổng lồ so với HTX là: 9.300 đô la nợ Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre, 1 triệu đồng nợ Công ty Cung ứng hàng xuất khẩu huyện Nhà Bè và 100.000 con cá giống của Xí nghiệp Thủy sản huyện Nhà Bè. Để cho sòng phẳng, cũng cần nói thêm rằng những loại công nợ đó còn do cung cách quản lý “bo bo phần mình” góp phần tạo nên – như nhận định của một đồng chí phó trưởng Phân ban Nông thôn Thành ủy, nó làm cho các xí nghiệp, công ty ở địa phương khác chỉ dám đến đầu tư một lần rồi…phát sợ chạy mất! Âu đây cũng là một hồi trong thiên truyện trường giang “Mô hình mới, cơ chế cũ…”

Những tưởng rằng sự phá sản của HTX Long Thạnh, xã Long Thới đã chấm dứt một thời “làm ăn lớn” dè đâu nó chưa đủ “đô” nên còn lặp lại ở TĐ 8 và TĐ 9 xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè cũng với kết cục không vui như trên.

Và chăng, trong kiểu làm mô hình thô sơ như vừa viện dẫn, mà nói chung sự lãnh đạo của cấp huyện hiện nay có lẽ cũng chỉ cho phép TĐ, HTX đạt được trình độ cỡ đó, chưa chắc có ai dám khẳng định dứt khoát rằng qui mô sản xuất 3,5 hecta và qui mô 50 – 100 hecta, qui mô nào mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn.

Phó chủ tịch xã Trần Văn Lợi tâm sự với tôi:

– Khoanh bờ cho một diện tích lớn là điều có thể làm nổi, với sức mạnh của nhân dân mà… Nhưng khó có thể tưởng tượng nổi nó sẽ ra được cái gì, vậy mà đã có nhiều lần chúng tôi mê cái “toàn xã” đó lắm, huy động sức dân lắp những con đê bao toàn xã lại, đi qua hàng chục con kinh rạch lớn nhỏ chằng chịt, nước ngọt đâu chẳng thấy chỉ thấy khô hạn ứ phèn, đập bể phí sức. Cứ làm đại sai rồi sửa, nhưng sai nhiều quá sửa sao xiết…

Xem lại tài liệu đầu tư của ngành tài chính huyện Nhà Bè gần đây, tôi càng thấm thía thêm: đã có 6.512.954 đồng vốn được chôn vào những công trình thủy lợi lớn của 9 HTX trong huyện tính bằng tiền mới thời điểm tháng 9/1985, nhưng đến nay mới thu lại được 495.272 đồng đạt 7,6% tổng số vốn đầu tư, và 50% mức lãi phải trả ngân hàng mặc dù luận chứng kinh tế kỹ thuật của các công trình này đều khẳng định đến năm 1988 la hoàn trả đủ vốn!!

Bài học sai đâu sửa đó như vậy đã có thấm chưa?

Lại một câu hỏi nữa đặt ra cho anh Ba Tiền sau một buổi cùng anh lội thăm đồng:

– Sao anh không làm một mình trên mảnh ruộng của anh?

– Nuôi tự nhiên mà! Ruộng nhỏ quá, lượng thức ăn cho tôm cá không nhiều, lượng nước trữ ít, vành đai cây trồng chu vi hẹp khi khép tán sẽ che bớt nắng của lúa và… còn nhiều cái khó khăn nữa.

Rõ ràng, có những đòi hỏi khách quan, chính nó qui định một cách làm hay một cách làm khác. Và phải chăng khi người nông dân tự do thật sự, họ biết họ phải làm gì, phải gõ cửa cầu viện những đâu khi cần thiết.

Có lẽ tình hình đã hết sức cấp bách để đặt vấn đề trao đổi rộng rãi: Hợp tác kiểu gì hay như thế nào, đó chỉ la chuyện hình thức. Nội dung thực chất là: Cái gì phù hợp với nguyện vọng và hoàn cảnh của người nông dân nhất thì đó chính la tiêu chuẩn.

Mong rằng có nhiều ý kiến bàn thêm của bà con và bạn nghe đài gần xa…

QUỐC TUẤN – NGUYỄN TRƯỜNG (1988)

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY